Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 8 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • 1. Ông Đặng Minh Lý;
  • 2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc H, sinh năm 1974; địa chỉ thường trú: Số A Đại Lộ B, Tổ C, Khu D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề ghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Quốc K, sinh năm 1974; địa chỉ thường trú: 1 đường H, Tổ B, Khu C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 26/3/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Ngọc H trình bày: Bà Lê Ngọc H và ông Trần Quốc K tự nguyện tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương vào ngày 24/3/2009. Quá trình sống chung, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, quan tâm và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Tuy nhiên, sau đó do quan điểm sống của hai vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vả, không những thế ông K còn thường xuyên nhậu, không quan tâm đến gia đình, không phụ bà H chăm sóc con. Bà H đã khuyên ông K và đã tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả mà càng ngày mâu thuẫn càng trầm trọng. Do không thể tiếp tục sống chung với nhau nên vợ chồng đã sống ly thân. Nay bà H nhận thấy tình cảm bà H dành cho ông K không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quốc K.

Về con chung: Bà H và ông K có 02 người con chung là cháu Trần Lê Tiến Q, sinh ngày 06/5/2009 và Trần Lê Quỳnh A, sinh ngày 08/10/2012. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Lê Tiến Q và Trần Lê Quỳnh A vì từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay các con đang sống chung với bà H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Trần Quốc K: Ông Trần Quốc K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông K không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn..

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố Tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các điều 70, 71, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại các điều 70, 72, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.

+ Về mặt nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Mâu thuẫn giữa bà H và ông K đã trầm trọng, không thể hàn gắn làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung, nhận thấy cháu Trần Lê Tiến Q, sinh ngày 06/5/2009 và Trần Lê Quỳnh A, sinh ngày 08/10/2012 đang do bà H Trực tiếp nuôi dưỡng, cháu A và cháu Q cũng có nguyện vọng được sống chung với bà H nên căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu A và cháu Q cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Lê Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn Trần Quốc K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông K kết hôn, có đăng ký kết hôn tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương vào ngày 24/3/2009 theo đúng quy định về đăng ký kết hôn tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nguyên đơn bà H cho rằng: Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống của hai vợ chồng không hợp nhau, ông K thường xuyên nhậu, không quan tâm đến gia đình, không phụ bà H chăm sóc con. Bà H đã khuyên ông K và đã tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả mà càng ngày mâu thuẫn càng trầm trọng. Do không thể tiếp tục sống chung với nhau nên vợ chồng đã sống ly thân, hiện bà H không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quốc K.

Xét thấy: Nguyên đơn bà H xác định quá trình sống chung, vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân nhau. Bà H xác định không còn tình cảm với ông K. Bị đơn ông Trần Quốc K đã được triệu tập nhiều lần đến làm việc nhưng ông K không chấp hành và cũng không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào đối với yêu cầu của bà H, chứng tỏ ông K không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình. Qua xác minh tại địa phương cũng được biết vợ chồng bà H và ông K có xảy ra mâu thuẫn dẫn đến ly thân. Do tình trạng mâu thuẫn giữa bà H và ông K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà H yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà H và ông K có 02 con chung là cháu Trần Lê Tiến Q, sinh ngày 06/5/2009 và Trần Lê Quỳnh A, sinh ngày 08/10/2012. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung.

Xét thấy: Hiện cháu Trần Lê Tiến Q và Trần Lê Quỳnh A đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Cháu Trần Lê Tiến Q và Trần Lê Quỳnh A cũng có nguyện vọng được sống chung với bà H. Về phía ông K không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà H nên việc giao cháu Q và cháu A cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là chính đáng và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ.

[4] Về án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 203, Khoản 1 Điều 227, 228, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Ngọc H đối với bị đơn ông Trần Quốc K về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Ngọc H được ly hôn với ông Trần Quốc K.
  • - Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Lê Tiến Q, sinh ngày 06/5/2009 và Trần Lê Quỳnh A, sinh ngày 08/10/2012 cho bà Lê Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Ngọc H phải chịu số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 05/4/2024 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP. Thủ Dầu Một;
  • - CCTHADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - UBND phường T;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger