Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/DS-ST

Ngày: 23/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

dân sự, vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Phương và ông Lê Phương Tùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 187/2024/TLST - DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 155/2024/QÐST.DS ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Phước Đ, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường V, thị xã T, tỉnh An Giang.

Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1990; Nơi cư trú: khóm T1, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bà T có mặt; ông Đ, bà M vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và ý kiến đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 20/12/2022, ông Đỗ Phước Đ có cho bà Nguyễn Thị Tuyết M vay số tiền 400.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất cho vay là 1,66%, thời hạn vay là 01 tháng kể từ ngày 20/12/2022, có lập biên nhận nợ do bà M ký tên, lăn tay. Quá trình vay, bà M không trả tiền lãi theo thỏa thuận và cũng không trả vốn vay khi đến hạn. Do đó, ông Đ khởi kiện yêu cầu bà M có trách nhiệm trả vốn vay 400.000.000 đồng, tiền lãi là 111.109.206 đồng (lãi suất 1,66% tính từ ngày 20/12/2022 đến ngày 07/5/2024) và tiếp tục tính tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc đến khi xét xử.

Tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là Biên nhận ngày 20/12/2022 (bản chính). Ngoài tài liệu chứng cứ này nguyên đơn xác định không có tài liệu chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.

Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà M vắng mặt không tham gia phiên họp.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả vốn vay 400.000.000 đồng; xin rút lại yêu cầu trả tiền lãi 111.109.206 đồng; yêu cầu trả tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật và xác định không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là biên nhận nợ. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền lãi, vốn vay nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả vốn vay 400.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về lãi suất cho vay, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại yêu cầu bị đơn trả tiền lãi 111.109.206 đồng và chỉ yêu cầu tính lãi chậm trả theo quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với việc rút lại yêu cầu này. Nguyên đơn cho rằng có thỏa thuận lãi suất cho vay là 1,6%/tháng nhưng Biên nhận ngày 20/12/2022 không thể hiện có thỏa thuận lãi suất cho vay nên căn cứ vào khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 mức lãi suất là 10%/năm, thời gian được tính kể từ ngày có đơn khởi kiện.

Từ phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết M có nơi cư trú tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử các đương sự.

[3] Về ủy quyền: Nguyên đơn ông Trịnh Phước Đ1 ủy quyền cho bà Trần Thị Kim T theo giấy ủy quyền số 003835, quyển số 05/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/5/2024. Văn bản ủy quyền này đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Về nội dung:

[4] Ông Đỗ Phước Đ khởi kiện yêu cầubà Nguyễn Thị Tuyết M trả số tiền vốn vay 400.000.000 đồng.

Xét, hợp đồng vay giữa ông Đ, bà M được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, có lập biên nhận nợ và nội dung thỏa thuận hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

Căn cứ vào Biên nhận nợ ngày 20/12/2022. Thấy rằng, giữa ông Đ, bà M có giao kết hợp đồng vay tiền. Quá trình vay do bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả vốn vay, tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, ông Đ khởi kiện yêu cầu bà M có trách nhiệm trả vốn vay là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, xét chấp nhận.

[5] Về tiền lãi: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu tính lãi kể từ ngày lập biên nhận ngày 22/12/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất quy định theo pháp luật. Ông Đ cho rằng có thỏa thuận lãi suất cho vay là 1,6% nhưng Biên nhận ngày 22/12/2022 không thể hiện có thỏa thuận lãi suất cho vay, không thỏa thuận thời hạn cho vay nên căn cứ vào khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 mức lãi suất là 10%/năm, thời gian được tính kể từ ngày 21/5/2024 là ngày ông Đ nộp đơn khởi kiện tại Tòa án (theo giấy xác nhận đơn).

Số tiền lãi của khoản vay 400.000.000 đồng từ ngày 21/5/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (23/9/2024) là: 400.000.000 đồng x 0.83%/tháng x 04 tháng 02 ngày = 13.501.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại yêu cầu bị đơn trả tiền lãi với số tiền 111.109.206 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Tuyết M có trách nhiệm trả vốn vay, tiền lãi 413.501.000 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.675.000đồng.

- Yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Phước Đ được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho ông Đ đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Phước Đ.

Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M có trách nhiệm trả cho ông Đỗ Phước Đ số tiền 413.501.000 (bốn trăm mười ba triệu năm trăm linh một nghìn) đồng, trong đó vốn vay 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng, tiền lãi 13.501.000 (ba triệu năm trăm linh một nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.675.000 (hai mươi triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.

Ông Đỗ Phước Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn tạm ứng án phí, án phí nên thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[3] Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ông Đỗ Phước Đ có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời gian kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tuyết M là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TPCĐ (2);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Ngọc Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản

  • Số bản án: 100/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger