Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21-8-2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng, ông Nguyễn Tất Thể

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 93/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Ngô Đức V, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

Hiện nay chị D đang lao động tại Đài Loan, nhưng không có địa chỉ cụ thể.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, anh Ngô Đức V bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh V và chị Nguyễn Thị D quen biết nhau thông qua mai mối. Sau một thời gian tìm hiểu, anh V và chị D phát sinh tình cảm yêu thương. Ngày 20/4/2012 anh V và chị D tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn anh V và chị D chung sống tại xã K vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên đến tháng 12/2013 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp tính nhau, hay cãi vã nhau. Đến tháng 6/2016 vì điều kiện kinh tế nên anh V đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và đến tháng 2/2017 thì chị D cũng sang Đài Loan làm ăn cùng anh V. Tuy cả hai vợ chồng cùng ở Đài Loan nhưng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng tăng lên. Đến nay anh V đã về Việt Nam còn chị D đang sống tại Đài Loan. Anh V nhận thấy không còn tình cảm với chị D nên làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho anh V được ly hôn với chị Nguyễn Thị D.

- Về con chung: Anh V và chị D có 01 con chung tên Ngô Thị Bảo T, sinh 20/02/2013. Hiện nay cháu đang ở với ông bà ngoại tại phường H, thị xã K. Nếu được ly hôn anh V có nguyện vọng để cho con chung lựa chọn sống cùng ai. Nếu con chung sống cùng chị D, anh V không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị D do đang lao động ở Đài Loan nên không có mặt để làm việc với Tòa án. Tại buổi làm việc ngày 17/5/2024, tại nhà bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị D, với sự chứng kiến của chính quyền địa phương phường H, đại diện Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Bà H đã gọi điện trực tiếp bằng hình ảnh cho chị D để chị D trình bày quan điểm của mình để Tòa án lập biên bản, cụ thể: Về nội dung các yêu cầu khởi kiện của anh V và các văn bản thông báo của Tòa án, thông qua các cuộc gọi với gia đình, chị D đã nắm bắt được đầy đủ. Hiện tại, do đang làm việc ở nước ngoài nên chị D không thể về tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án. Chị D thống nhất ủy quyền mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị H trực tiếp giao nhận các văn bản, tài liệu của Tòa án và thông báo lại cho chị D biết. Quan điểm của chị D về yêu cầu khởi kiện của anh V như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị D thống nhất như trình bày của anh V về quá trình kết hôn. Nay anh V yêu cầu ly hôn, chị D đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh V.

- Về con chung: Anh V và chị D có 01 con chung tên Ngô Thị Bảo T, sinh 20/2/2013. Khi ly hôn chị D có nguyện vọng nuôi con chung, tuy nhiên do chị D đang ở nước ngoài nên nhờ mẹ chị D là bà bà Nguyễn Thị H chăm sóc con chung đến khi chị D về nước. Chị D không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Đức V.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Ngô Đức V được ly hôn chị Nguyễn Thị D.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Ngô Thị Bảo T, sinh 20/02/2013 cho chị Nguyễn Thị D nuôi dưỡng. Tuy nhiên trong thời gian chị D chưa về nước giao cháu T cho mẹ ruột của chị Lê Thị H1 chăm sóc đến khi chị H1 về nước. chị D không yêu cầu nên anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Chị Nguyễn Thị D hiện đang lao động tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Tại văn bản số 429/PA08- Đ1 ngày 07/5/2024 của phòng PA08 Công an tỉnh H thể hiện: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1991; địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 15/02/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Bị đơn đã nhận được thông tin về các văn bản của Toà án, yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn tại nước ngoài. Qua biên bản lấy lời khai ngày 16/5/2024 người thân của bị đơn không cung cấp được địa chỉ tại nước ngoài của bị đơn. Tại cuộc gọi trực tuyến kết nối với bị đơn và có lập biên bản ngày 17/5/2024, thông qua cuộc gọi trực tuyến bị đơn có ý kiến hiện nay đang lao động tự do tại Đài Loan và không có địa chỉ cụ thể. Bị đơn không thể về nước để tham gia giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị D theo quy định.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Anh V và chị D tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện K cấp ngày 03/5/2012 nên hôn nhân giữa anh V và chị D là hôn nhân hợp pháp. Anh V cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do chị D đi lao động tại nước ngoài nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hợp tính nhau, hay cãi vã nhau. Đến tháng 6/2016 vì điều kiện kinh tế nên anh V đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và đến tháng 2/2017 thì chị D cũng sang Đài Loan làm ăn cùng anh V. Tuy cả hai vợ chồng cùng ở Đài Loan nhưng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng tăng lên. Đối với yêu cầu ly hôn của anh V, chị D đồng ý ly hôn.

Anh V và chị D là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Anh V và chị D xảy ra mâu thuẫn, anh V và chị D không có thiện chí hàn. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho anh V được ly hôn với chị D.

[2.2] Về con chung: Anh V và chị D có 01 con chung tên Ngô Thị Bảo T, sinh 20/02/2013, hiện nay đang sống với bố mẹ ruột của chị D. Theo nguyện vọng của anh V để cho con lựa chọn ở với ai khi anh, chị ly hôn và theo nguyện vọng của cháu T và chị D cũng như để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu cần giao cháu Ngô Thị Bảo T cho chị Nguyễn Thị D nuôi dưỡng. Tuy nhiên trong thời gian chị D chưa về nước tạm thời giao cháu T cho mẹ chị D là bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị D về nước là phù hợp để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu. Ngoài ra mẹ chị D đã có đơn nguyện vọng nuôi cháu. Chị D không yêu cầu nên anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: Anh V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Đức V, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Ngô Đức V được ly hôn chị Nguyễn Thị D
  2. Về con chung: Giao cháu Ngô Thị Bảo T, sinh 20/2/2013 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian chị Nguyễn Thị D chưa về Việt Nam, tạm thời giao cháu T cho mẹ chị D là bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị D về nước. Chị D không yêu cầu nên anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung

Chị D và các thành viên trong gia đình co nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh V trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Anh Ngô Đức V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh V đã nộp theo biên lai số 0000856 ngày 24/4/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Kỳ Đồng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Vinh và chị Nguyễn Thị Dung quen biết nhau thông qua mai mối. Sau một thời gian tìm hiểu, anh Vinh và chị Dung phát sinh tình cảm yêu thương. Ngày 20/4/2012 anh Vinh và chị Dung tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Kỳ Đồng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn anh Vinh và chị Dung chung sống tại xã Kỳ Đồng tình cảm vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên đến tháng 12/2013 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp tính nhau, hay cãi vã nhau. Đến tháng 6/2016 vì điều kiện kinh tế nên anh Vinh đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và đến tháng 2/2017 thì chị Dung cũng sang Đài Loan làm ăn cùng anh Vinh. Tuy cả hai vợ chồng cùng ở Đài Loan nhưng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng tăng lên. Đến nay anh Vinh đã về Việt Nam còn chị Dung đang sống tại Đài Loan. Anh Vinh nhận thấy không còn tình cảm với chị Dung nên làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho anh Vinh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Dung.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger