Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HNGĐ-PT

Ngày 29/8/2024

V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Minh.

Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thủy Tiên.

Bà Đặng Thị Bích Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2024/TLPT-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 “Tranh chấp về ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 404/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh bị bị đơn kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4535/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc Hương, sinh năm 1957; Hộ khẩu thường trú: 427/2/4 Tân Kỳ Tân Qúy, phường Tân Qúy, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 97/30/8 Tân Qúy, tổ dân phố 81, khu phố 4, phường Tân Qúy, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Ông Trịnh Quang Báu, sinh năm 1942; Hộ khẩu thường trú: 427/2/4 Tân Kỳ Tân Qúy, phường Tân Qúy, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 97/30/8 Tân Qúy, tổ dân phố 81, khu phố 4, phường Tân Qúy, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Ngọc Hương trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Hương và ông Báu tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25/1979, quyển số 01/P.21, ngày 12/7/1979 tại Ủy ban nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do có nhiều bất đồng quan điểm. Do cuộc sống khó khăn nên dù lớn tuổi bà vẫn phải đi làm tạp vụ thức khuya dậy sớm nhưng ông Báu không thông cảm mà còn nghi ngờ bà có người đàn ông khác bên ngoài nên thường xuyên chửi bới, kiếm chuyện với bà. Thậm chí, còn đến chỗ làm của bà để quậy và bêu rếu bà có người đàn ông khác bên ngoài. Ông Báu nhiều lần quậy phá bà nên gia đình bà phải báo công an để can thiệp nhưng do là chuyện gia đình nên công an không lập biên bản. Bà Hương đã cố gắng nhường nhịn, tìm cách giải quyết để nhằm mục đích cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng ông Báu thường xuyên gây áp lực về tinh thần vì luôn nghi ngờ bà có người đàn ông khác. Do đó, bà không thể tiếp tục chung sống mà đã dọn ra ngoài ở từ tháng 01/2024 đến nay. Bản thân của ông Báu hiện nay không còn niềm tin vào bà nên dù có quay về sống chung cũng không thể hạnh phúc được, rồi bà cũng sẽ tiếp tục ly hôn. Nay bà Hương nhận thấy không còn tình cảm với ông Báu, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Báu.

  • - Về quan hệ con chung: Bà Hương và ông Báu có 01 con chung tên Trịnh Mỹ Ngọc Thủy, sinh ngày 02/11/1981. Con chung đã trưởng thành, khỏe mạnh và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Hương khai không có.

Bị đơn – ông Trịnh Quang Báu trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Báu xác nhận thời gian chung sống và kết hôn như bà Hương trình bày là đúng.

Về mâu thuẫn trong hôn nhân là do bà Hương sống không chung thuỷ, có người đàn ông khác bên ngoài, thường xuyên đi sớm về khuya nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, ông không còn niềm tin vào bà Hương nên bây giờ bà Hương đi đâu làm gì hay nói gì ông cũng đều không tin. Công an có đến giải quyết nhưng chỉ nói là việc gia đình nên để gia đình tự giải quyết, không được để mất trật tự địa phương. Tuy nhiên, nay bà Hương yêu cầu ly hôn ông không đồng ý do ông còn thương vợ.

  • - Về quan hệ con chung: Ông Báu khai có 01 con chung tên Trịnh Mỹ Ngọc Thủy, sinh ngày 02/11/1981. Con chung đã trưởng thành, khỏe mạnh và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Ông Báu khai không có.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 404/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Tân Phú quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc Hương.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Ngọc Hương được ly hôn ông Trịnh Quang Báu.

Quan hệ hôn nhân của bà Trần Ngọc Hương và ông Trịnh Quang Báu (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25/1979, quyển số 01/P.21 ngày 12/7/1979 cấp tại Ủy ban nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) chấm dứt kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.

  • - Về quan hệ con chung: Bà Trần Ngọc Hương và ông Trịnh Quang Báu cùng xác nhận có 01 con chung tên Trịnh Mỹ Ngọc Thủy, sinh ngày 02/11/1981 đã trưởng thành, khỏe mạnh và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Ngọc Hương và ông Trịnh Quang Báu cùng khai không có.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 29/5/2024 bị đơn ông Trịnh Quang Báu kháng cáo một phần bản án sơ thẩm: Về quan hệ hôn nhân: Ông không đồng ý ly hôn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Trần Ngọc Hương giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Trịnh Quang Báu giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Ông kháng cáo không đồng ý ly hôn vì tuổi già, con còn trẻ không thể chăm sóc ông lúc già yếu.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Báu trong thời hạn luật định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 25/1979, quyển số 01/P.21 do Ủy ban nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/7/1979 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Ngọc Hương và ông Trịnh Quang Báu là hợp pháp.

Mâu thuẫn giữa bà Hương và ông Báu là trầm trọng, bà Hương cương quyết ly hôn. Ông Báu kháng cáo không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra giải pháp hàn gắn. Do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hương, không chấp nhận kháng cáo của ông Báu.

Về con chung: Con Trịnh Mỹ Ngọc Thủy, sinh ngày 02/11/1981 đã thành niên.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Do đó, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo bị đơn ông Trịnh Quang Báu, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Quang Báu làm trong thời hạn quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về kháng cáo của ông Báu không đồng ý ly hôn với bà Hương: Vợ chồng ông Báu, bà Hương không còn tin tưởng, thương yêu, quý trọng, chăm sóc nhau, đã sống riêng từ tháng 01/2024 cho đến nay làm cho quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hương là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Báu. Do đó, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do ông Trịnh Quang Báu là người cao tuổi nên không phải chịu án phí phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc Hương.
  2. Về hôn nhân: Bà Trần Ngọc Hương được ly hôn ông Trịnh Quang Báu.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm:
  4. Bà Trần Ngọc Hương và ông Trịnh Quang Báu được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm

  5. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án ; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND, VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKS, TA, THA quận Tân Phú;
  • - UBND quận Tân Bình;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (T/20)

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HNGĐ-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 100/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger