Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HS-ST

Ngày 16 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đồng

Bà Lê Thị Sử

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Hường

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên Trương Thị Q - Sinh ngày 20/10/1993 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: không; Trú quán: xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Công L, sinh năm 1968 và bà Thái Thị V, sinh năm 1971; Chồng: Lê Ngọc C, con: có 01 con sinh năm 2020; Tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/9/2023 đến ngày 18/9/2023, hiện đang bị áp dụng biện biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt
  2. Họ và tên Nguyễn Văn L1 - Sinh ngày 12/11/1980 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: không; Trú quán: xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1951 và con bà Trần Thị T, sinh năm 1952; Vợ: Nguyễn Thị P; con: 03 nhỏ nhất sinh năm 2017, lớn nhất sinh năm 2006; Tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/9/2023 đến ngày 18/9/2023, hiện đang bị áp dụng biện biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trương Thị H - Sinh năm 1968; Nơi cư trú: xóm L, xã L, huyện Đ.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 11/9/2023, bị cáo Nguyễn Văn L1, sinh năm 1980, trú tại xóm L, xã L, huyện Đ đã sử dụng điện thoại di động N1 có gắn sim số 0867.708.567 gọi điện thoại đến số 0337.469.xxx của Trương Thị Q để mua cafe. Nhận ra giọng của Trương Thị Q và L1 biết được Q có ghi số lô, số đề nên L1 đã nói với Q “Có ghi cho chú mấy con được không “ Ý của L1 là muốn Trương Thị Q nhận ghi cho mình số lô, số đề. Khi Trương Thị Q đồng ý thì Nguyễn Văn L1 đánh các số lô, số đề như sau: Số lô 43,34 mỗi số lô 5 điểm lô tương ứng với số tiền 225.000 đồng ( hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng ); số lô 23,32 mỗi số lô 25 điểm lô tương ứng với số tiền 1.125.000 đồng ( Một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh số lô, số đề giữa Nguyễn Văn L1Trương Thị Q là 1.350.000 đồng ( Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng ), sau khi nhận ghi số lô, số đề từ Nguyễn Văn L1 xong thì Trương Thị Q có ghi vào tờ giấy lịch. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B ngày 11/9/2023 thì số lô 23 về 02 lần tương ứng với 50 điểm lô nên Nguyễn Văn L1 trúng thưởng số tiền 50x80.000 đồng = 4.000.000 đồng ( Bốn triệu đồng ). Tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Văn L1Trương Thị Q trong ngày 11/9/2023 là: 1.350.000 đồng + 4.000.000 đồng = 5.350.000 đồng ( Năm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng ).

Vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 13/9/2023, Nguyễn Văn L1 đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để đầu thú về hành vi phạm tội của mình, cùng ngày 13/9/2023 Trương Thị Q bị bắt khẩn cấp

Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ có số IMEL: 353012099727990, có sim số 0337.469.771 thu giữ của Trương Thị Q. 01 với tờ lịch ghi chép số lô, số đề thu giữ của Trương Thị Q

Ngày 24/10/2023 Cơ quan điều tra đã chuyển 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ có số IMEL: 353012099727990, có sim số 0337.469.771 thu giữ của Trương Thị Q sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương bảo quản.

Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trương Thị Q, Nguyễn Văn L1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo Trương Thị Q thừa nhận: vào ngày 11/9/2023, Nguyễn Văn L1 đã điện thoại cho bị cáo Q qua số điện thoại 0337.469.xxx để thực hiện hành vi đánh số lô, số đề với số tiền đánh là 1.350.000 đồng, tiền trúng thưởng 4000.000 đồng. Trước khi bị bắt, bị cáo L1 chưa thanh toán số tiền đánh cho bị cáo Q. Bị cáo có chồng Lê Ngọc C được Bộ T1 tặng thưởng Chiến sỹ tiên tiến và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo Nguyễn Văn L1 thừa nhận: ngày 11/9/2023 bị cáo đã gọi điện cho bị cáo Trương Thị Q để đánh số lô/đề số tiền đánh là 1.350.000 đồng, tiền trúng thưởng 4000.000 đồng. Bị cáo chưa thực hiện việc trả tiền đánh và chưa nhận số tiền đánh trúng cho bị cáo Q. Bị cáo có bố Nguyễn Văn N được tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ giải phóng và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị H thừa nhận 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ có số IMEL: 353012099727990, có sim số 0337.469.771 thu giữ của Trương Thị Q là do bà cho bị cáo Trương Thị Q vào tháng 3 năm 2023, bị cáo Q là con dâu của bà Trương Thị H. Bà H không biết việc bị cáo Q sử dụng điện thoại do bà cho để thực hiện việc đánh bạc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội đánh bạc và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Thị Q từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố Tụng Hình sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: số tiền sử dụng để đánh bạc 1.350.000đồng từ bị cáo Trương Thị Q, số tiền trúng thưởng 4000.000đồng từ bị cáo Nguyễn Văn L1; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ có số IMEL:353012099727990,

Tịch thu tiêu hủy: 01 Sim số 0337.469.771 thu giữ của Trương Thị Q.

Các bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: ngày 11/9/2023 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, thông qua cuộc gọi điện thoại, Trương Thị QNguyễn Văn L1 đã có hành vi đánh số lô/đề với số tiền 5.350.000đồng (trong đó, tiền đánh 1.350.000 đồng, tiền trúng thưởng 4000.000 đồng). Tại thời điểm thực hiện hành vi các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đủ khả năng nhận thức, điều khiến hành vi của mình. Hành vi của các bị cáo Trương Thị Q, Nguyễn Văn L1 đã đủ yếu tố cấu thành tội "đánh bạc" được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương để xác định tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo.

[2.1]. Xét tính chất, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Xét tính chất vụ án, nhân thân: hành vi của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm không lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Trong tình hình hiện nay, tệ nạn đánh bạc đang gây nên nỗi bức xúc cho toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội. Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn

Xét: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự); thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự). Bị cáo Q có chồng Lê Ngọc C được Bộ T1 tặng thưởng Chiến sỹ tiên tiến, bị cáo L1 tự nguyện ra đầu thú, có bố Nguyễn Văn N được tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ giải phóng ( là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự). Nhân thân các bị cáo tốt, bị cáo Q có điều kiện kinh tế đảm bảo thi hành án bằng hình thức phạt tiền nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Q là đủ nghiêm. Đối với bị cáo L1 có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, quá trình sinh sống tại địa phương không có sai phạm gì, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 36 cho bị cáo L1 được cải tạo giáo dục tại địa phương để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo L1 không có thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập

[2.2].Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

[2.3]. Về biện pháp tư pháp:

Các bị cáo chưa thực hiện việc giao, nhận tiền đánh lô, đề và tiền trúng thưởng cho nhau nên cần truy thu từ các bị cáo những khoản tiền sau:

Truy thu từ bị cáo Trương Thị Q 1.350.000 (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) tiền đánh bạc

Truy thu từ bị cáo Nguyễn Văn L1 4000.000( bốn triệu đồng) là tiền dự kiến trả thưởng cho bị cáo L1

[2.4]. Về xử lý vật chứng:

01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ có số IMEL:353012099727990 thu giữ của Trương Thị Q là công cụ phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Một sim số điện thoại 0337.469.xxx thu giữ của Trương Thị Q hiện không có giá trị sử dụng, cần tiêu hủy.

Đối với 01 với tờ lịch ghi chép số lô, số đề thu giữ của Trương Thị Q có lưu các dữ liệu chứng minh về hành vi vi phạm pháp luật, cần tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.

Về vấn đề khác:

Đối điện thoại động điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ có số IMEL:353012099727990, sim số 0337.469.771 thu giữ của Trương Thị Q là do bà Trương Thị H đã cho con dâu mình là Trương Thị Q sử dụng chiếc điện thoại này từ tháng 3 năm 2023, việc bị cáo Q dùng chiếc điện thoại để đánh bạc bà H không biết, nên không cấu thành tội phạm

Qua lời khai của bị cáo Q, ngày 11/9/2023 bị cáo còn hành vi đánh bạc với 03 người khác nhưng bị cáo Trương Thị Q không biết rõ nhân thân, địa chỉ, đặc điện cụ thể của những người ngày, nên chưa có cơ sở để xử lý, cần tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau

Về án phí: các bị cáo Trương Thị Q, Nguyễn Văn L2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “ Đánh bạc” nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/9/2023 đến ngày 18/9/2023 = 6 ngày tạm giữ tương đương 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành thời gian cải tạo không giam giữ còn lại là 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

    Giao các bị cáo Nguyễn Văn L1 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo Nguyễn Văn L1 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

    Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trương Thị Q 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng về tội “ Đánh bạc”

  2. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung
  3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    Truy thu từ bị cáo Trương Thị Q 1.350.000 (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) tiền đánh bạc

    Truy thu từ bị cáo Nguyễn Văn L1 4000.000 (bốn triệu đồng) đồng là tiền dự kiến trả thưởng cho bị cáo L1

    Xử lý vật chứng:

    Tịch thu vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ có số IMEL:353012099727990

    Tiêu hủy sim số 0337.469.771

    (Các vật chứng này đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2023).

  4. Về án phí: áp dụng Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Trương Thị Q, Nguyễn Văn L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - VKSND huyện Đô Lương;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - CQĐT Công an huyện Đô Lương;
  • - CQTHAHS huyện Đô Lương;
  • - CCTHADS huyện Đô Lương;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 100/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử hình sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger