Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 9 - 2024

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia

đình – Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.

Các Hội Thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Ngọc Anh.
  2. Bà Trần Thị Út .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Anh Trần Văn Bé V, sinh năm: 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N (gọi tắt là chị N) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Trần Văn Bé V quen nhau có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/2011 tại UBND xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị N cho rằng sau khi đám cưới vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc đến năm 2019 thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn không giải quyết được, do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, hôn nhân bất hòa và nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, nên chị N cương quyết được ly hôn với anh Trần Văn Bé V.

Về con chung: Chị N khai trong thời gian sống chung vợ chồng có 3 con chung tên Trần Thị Bảo T (giới tính: nữ) sinh ngày 03/10/2011, Trần Thị Bảo N1 (giới tính: nữ) sinh ngày 03/11/2012 và Trần Nguyễn Gia K (giới tính: nam) sinh ngày 29/8/2018. Hiện 02 cháu Bảo T và Gia K đang sống với chị N. Riêng cháu Bảo N1 thì đang sống với anh V. Khi ly hôn chị N yêu cầu tiếp tục nuôi cháu T và cháu K, chị N không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con, chị N đồng ý để anh V tiếp tục nuôi cháu N1 và chị N không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Văn Bé V đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của chị N và Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh V để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn anh Trần Văn Bé V.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N đối với anh Trần Văn Bé V.
  • - Về con chung: Giao cháu T và cháu K cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng. Giao cháu N1 cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Chị N và anh V chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho chị N và anh V theo quy định pháp luật.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  • - Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung đối với bị đơn anh Trần Văn Bé V. Căn cứ theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Bị đơn anh Trần Văn B V có địa chỉ cư trú tại ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Trần Văn B V được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không lý do, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với tất cả các đương sự trong vụ án nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định.

[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Vào 2011 chị N và anh V tự nguyện kết hôn và có đăng kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Sau thời gian chung sống hạnh phúc anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc nên anh chị đã ly thân từ năm 2019 đến nay.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh V và cho rằng không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng với anh V được nữa. Anh V cũng đã được Toà án triệu tập hợp hợp lệ nhiều lần nhưng anh V đều vắng mặt nên Toà án không thể ghi nhận được ý kiến của anh V đối với yêu cầu ly hôn của chị N. Điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh V thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh chị không thể tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng. Do đó, hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N và anh V.

[2.2]. Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung cho của chị N, hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi chị N và anh V ly thân đến nay thì cháu T và cháu K được chị N nuôi dưỡng, cháu N1 được anh V nuôi dưỡng. Tại bản tự khai cháu T cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ là chị N, còn cháu N1 đang sống chung với anh V vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên chưa ghi nhận được ý kiến của cháu N1. Tuy nhiên, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý và ổn định cuộc sống cho các cháu cũng như theo nguyện vọng của cháu T, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu T và cháu K cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu N1 cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị N và anh V không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Chị Như không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con, nên Toà án không xem xét. Anh V vắng mặt chưa thể hiện ý kiến về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét, trường hợp anh V có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Anh V vắng mặt nên chưa thể hiện ý kiến về tài sản và nợ chung, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét về tài sản và nợ chung của chị N và anh V, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết thành vụ án khác theo quy định.

[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 233; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N đối với bị đơn anh Trần Văn Bé V. Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Trần Văn Bé V.
  2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị Nguyễn Thị N đối với anh Trần Văn Bé V. Giao cháu Trần Thị Bảo T (giới tính: nữ) sinh ngày 03/10/2011 và cháu Trần Nguyễn Gia K (giới tính: nam) sinh ngày 29/8/2018 cho chị Nguyễn Thị N được tiếp tục nuôi dưỡng. Cháu T và cháu K đang sống chung với chị N.

    Giao cháu Trần Thị Bảo N1 (giới tính: nữ) sinh ngày 03/11/2012 cho anh Trần Văn B V được tiếp tục nuôi dưỡng. Cháu N1 đang sống chung với anh V.

    Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn B V không ai được quyền cản trở.

    Về cấp dưỡng: Chị Như không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét. Anh V chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Anh V chưa thể hiện ý kiến về tài sản và nợ chung, nên chưa xem xét.
  4. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0010153 phiếu lập ngày 18/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/9/2024). Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H. Long Mỹ;
  • - THADS H. Long Mỹ;
  • - UBND xã Vĩnh Thuận Đông;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thúy Ngoan

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Phạm Ngọc Anh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Trần Thị Út

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thuý Ngoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn, yêu cầu nuôi con chung

  • Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị N yêu cầu ly hôn với anh V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger