|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày 19-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Nguyễn Trọng Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2005 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn M và bà Danh Thị H; vợ Đào Thùy D; con có 01 người, sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/6/2023 bị Công an xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.250.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/6/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Trương Minh H1, sinh năm 2001. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- + Nguyễn Phong T, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (xin vắng mặt);
- + Lý Văn H2, sinh năm 2007. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 30/11/2023, Nguyễn Văn V, sinh 01/01/2009 thường trú ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang đến nhà bị can Nguyễn Văn Đ, sinh 18/9/2005 tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang uống rượu. Trong lúc uống rượu thì bị can Đ rủ V đi tìm xe máy để trộm bán lấy tiền chuẩn bị cho vợ bị can đi sanh thì V đồng ý. Khi cả hai uống gần hết nữa lít rượu thì nghỉ, bị can Đ lấy xe máy mang biển kiểm soát 68EA-015.58 của bị can chở V chạy về hướng kênh M để trộm. Khi đến đoạn đường gần kênh xáng I, thuộc ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì cả hai thấy có rất nhiều xe máy đậu phía đưới mé sông cặp lộ bê tông, đối diện bên sông có đám cưới đông người, bị can Đ chạy qua khỏi chỗ có nhiều xe đang đậu, khoảng 30 mét thì quay lại và dừng lại kêu V xuống dẫn chiếc xe Yamaha Sirius, mang biển kiểm soát 68M1-334.56 của anh Trương Minh H1 lên lộ, V ngồi trên xe vừa trộm được để cho bị can Đ chạy kè, dùng chân đẩy xe về nhà của bị can Đ, trên đường về thì xe của Đ bị ngã trước nhà của Lý Văn H2. Lúc này, anh H2 nghe có tiếng ngã xe nên anh H2 chạy ra tiếp đở xe của bị can Đ lên, rồi bị can Đ tiếp tục chạy xe kè, đẩy xe trộm được với V về nhà cất giấu. Đến sáng 01/12/2023 bị can Đ và V đem xe đã trộm được ra tiệm sửa xe của anh T ở ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang để tháo dây max và tháo một số bộ phận của xe ra và đưa cho V sử dụng. Sau khi đi đám xong anh Trương Minh H1 ra về thì phát hiện bị mất xe đã trình báo Công an xã Đ và tổ chức đi tìm kiếm đến ngày 04/12/2023 thì Công an xã Đ phát hiện V đang điều khiển xe nên tiến hành mời V và Đ về trụ sở Công an xã Đ làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Văn Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang ra yêu cầu Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A định giá tài sản.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 16/02/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận:
- 01 (Một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, mang biển kiểm soát 68M1-334.56. Giá trị còn lại 6.500.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ: 01 (Một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, mang biển kiểm soát 68M1-334.56, hiện đã trả lại bị hại là anh Trương Minh H1. 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Espero, mang biển kiểm soát 68EA-015.58.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu nên không xem xét.
Tại Cáo trạng số 81/CT-VKS-AM ngày 26-8-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Văn Đương về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 09 đến 12 tháng tù; về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị không xem xét; Về vật chứng, áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Espero, mang biển kiểm soát 68EA-015.58 là phương tiện bị cáo Nguyễn Văn Đ sử dụng để đi thực hiện hành vi phạm tội.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hiện tại vợ bị cáo mới sinh con nhỏ, gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Thấy bị hại đã có lời khai rõ ràng, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX xét xử vắng mặt.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 20 giờ, ngày 30/11/2023 Nguyễn Văn Đ rủ Nguyễn Văn V, sinh ngày 01/01/2009 đi tìm tài sản để lấy trộm thì V đồng ý. Khi Đ và V đi đến đoạn đường kênh xáng I thuộc
ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang phát hiện có nhiều xe đậu cặp mé sông nên Đ kêu V xuống lấy trộm chiếc xe Yamaha Sirius, biển kiểm soát 68M1-334.56 của anh Trương Minh H1, sau đó V ngồi trên xe vừa lấy trộm được để cho Đ chạy kè, dùng chân đẩy xe về nhà Đ cất giấu. Tại Kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐGTS ngày 16/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận giá trị chiếc xe bị cáo Nguyễn Văn Đ lấy trộm của anh Trương Minh H1 là 6.500.000 đồng.
[3] Về tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác; bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại để lén lút chiếm đoạt tài sản của họ; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 6.500.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn V là hành vi đồng phạm với bị cáo Đ trong việc trộm cắp tài sản. Do V sinh ngày 01/01/2009, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
[4] Về hình phạt:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn Đ đã có hành vi rủ rê, xúi giục Nguyễn Văn V, sinh ngày 01/01/2009 là người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Trương Minh H1 cùng với bị cáo. Do đó ngoài việc bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản thì bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. HĐXX xác định đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng tuy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân; bị cáo có 01 tình tiết tăng
nặng nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo đã quyết tâm sửa chữa lỗi lầm; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (cha, mẹ ly hôn và bị cáo sống với ông bà), vợ bị cáo mới sinh con nhỏ; bị cáo phạm tội khi vừa mới hơn 18 tuổi nên nhận thức hạn chế. Vì vậy, chỉ cần xử phạt ở mức đầu khung hình phạt là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân, hoàn cảnh gia đình bị cáo; tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về lo cho gia đình, vợ con.
[5] Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về biện pháp tư pháp, chiếc xe là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí, bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 Một) xe mô tô nhãn hiệu Espero, mang biển kiểm soát 68EA-015.58 đã qua sử dụng (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ-VKS-AM ngày 26-8-2024 của VKSND huyện An Minh).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 18/6/2024).
5- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19-9-2024). Bị hại vắng mặt nên có quyền kháng cảo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản
