Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/8/2024

“tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Thương

2. Ông Phạm Xuân Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2024; về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Mai Thị Thủy T, sinh năm: 1999

Nơi cư trú: số 76, ấp Gia Lào, xã Suối Cao, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

2.Bị đơn: Võ Ngọc D, sinh năm: 1998

Nơi cư trú: số D, đường số H (đường số A hiện nay), thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

1

Tại phiên tòa: nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/5/2024, biên bản tự khai, biên bản không hòa giải được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn Mai Thị Thủy T trình bày: Chị và anh D tự nguyện tìm hiểu được 6 tháng thì kết hôn, có đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại UBND xã Đ, huyện Đ. Sau khi kết hôn thì anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị thường xuyên cãi nhau về tiền, ngoài ra anh D còn đánh chị nhiều lần. Khi sự việc xẩy ra mâu thuẫn thì anh chị được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần, nhưng anh D không thay đổi sửa chữa. Hiện tại anh chị đã ly thân từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Khi ly thân thì chị về ở xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai, còn anh D vẫn ở xã Đ. Hiện nay chị xác định không còn tình cảm với anh D, chị yêu cầu tòa án cho ly hôn.

-Về con chung: không có

-Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận

Đối với bị đơn anh Võ Ngọc D:

Sau khi thụ lý vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra viên giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giả, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại biên bản xác minh bút lục 22 thể hiện:

Sau khi kết hôn chị T và anh D sinh sống cùng gia đình chồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Hiện tại anh chị đã ly thân, chị T đã về sống tại nhà cha mẹ chị tại xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai; còn anh D vẫn cư trú tại số D, đường số H (đường số A hiện nay), thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:

- Về tố tụng:

2

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

+ Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Mai Thị Thủy T được ly hôn với anh Võ Ngọc D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 21/5/2024 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn,” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự

Chị T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 12/8/2024; Anh Võ Ngọc D biết chị T1 khởi kiện ly hôn nhưng anh cố tình không có mặt theo sự triệu tập của Tòa. Chứng tỏ anh đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn Võ Ngọc D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định của khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.

3

[4] Về hôn nhân: Chị Mai Thị Thủy T và anh Võ Ngọc D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 16/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn chị T và anh D chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị mâu thuẫn về tiền bạc, anh D lại đánh chị nhiều lần. Do đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, chị T không còn tình cảm với anh D nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Bản thân anh D sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để các bên quay về chung sống với nhau nhưng không tham gia, chứng tỏ anh D cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với chị T. Trong khi đó chị T cũng cương quyết ly hôn. Điều này chứng tỏ tình trạng mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh D đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn.

Từ đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử cho chị T được ly hôn với anh D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị T là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.

[7] Xét ý kiến của Kiểm Sát V về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp vợi nội dung vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, Điều 244, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Áp dụng Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Mai Thị Thủy T:

1.Về hôn nhân: Chị Mai Thị Thủy T ly hôn anh Võ Ngọc D

2.Về án phí DSST: Chị Mai Thị Thủy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004574, ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

3.Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Thi hành án DS huyện Đức Linh;
  • - UBND xã Đức Hạnh
  • - Các đương sự;.
  • -Lưu hồ sơ, quyết định./.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Xuân Thuận

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger