|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2024/HS-ST
Ngày: 16-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Tuyết
Ông Tô Tấn Chương
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Tư- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T
(tên gọi khác: P), sinh ngày 05 tháng 9 năm 1984 tại: Hậu Giang; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1; con bà: Lê Thị M; Có vợ tên Đinh Thị Mộng K; Tiền án: Ngày 15/8/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xử phạt 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng; Ngày 10/4/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án số 34/2006/HSST ngày 15/8/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Vị Thanh buộc bị cáo phải chấp hành là 24 (hai mươi bốn) tháng tù, đến ngày 04/01/2010 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 26/11/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 54 (năm mươi bốn) tháng tù, bị cáo kháng cáo, đến ngày 24/02/2011 Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 18 (mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt chung cả hai tội buộc phải chấp hành là 42 (bốn mươi hai) tháng tù, đến ngày 30/01/2014 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 18/6/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo kháng cáo, đến ngày 7/9/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm giữ nguyên y án sơ thẩm; Ngày 13/8/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt của cả hai bản án buộc phải chấp hành là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, đến ngày 21/6/2019 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HSST ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã xử phạt Nguyễn Văn T 09 (chín) năm tù về tội “Cướp tài sản”; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 28/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã xử phạt Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc phải chấp hành là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2021 (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Bà Hồ Thị Hồng P1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10 năm 2020, bà Hồ Thị Hồng P1 kết bạn làm quen với Nguyễn Văn T qua mạng xã hội Zalo. Sáng ngày 27/12/2020, Văn T bắt xe đi từ tỉnh Hậu Giang đến Thành phố Hồ Chí Minh và nói với bà P1 có cháu bị tai nạn đang nằm điều trị tại Bệnh viện C, số B N, Phường A, Quận E nên nhờ chị P1 đến Bệnh viện để phụ giúp (thực tế không có ai nằm bệnh viện). Tin lời Văn T2, P1 một mình điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số: 70K1-478.19 (trong xe có tiền và tài sản cá nhân của P1) từ Tây Ninh đến Thành phố Hồ Chí Minh, đến khoảng 10 giờ ngày 27/12/2020, P1 gặp Văn T2 trước cổng Bệnh viện C và đưa xe trên cho Văn T2 điều khiển chở P1 ngồi sau đi ăn cơm, sau đó cả hai thuê khách sạn P2, địa chỉ A N, Phường A, Quận E để quan hệ tình dục. Đến 16 giờ cùng ngày, cả hai quay lại trước cống số 1 Bệnh viện C, lúc này, Văn T2 nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số: 70K1-478.19 nên yêu cầu P1 xuống xe đi vào tiệm tạp hoá gần đó để mua hộp khăn giấy. Khi P1 xuống xe, Văn T2 giả vờ điều khiển xe chạy vào trong bãi xe Bệnh viện C nhưng không gửi xe mà điều khiển xe ra phía lối ra rồi chạy thẳng về quê tại tỉnh Hậu Giang đồng thời tắt máy điện thoại, cắt liên lạc với P1. Sau khi chiếm đoạt xe, Văn T2 mở cốp xe kiểm tra bên trong thấy 01 điện thoại di động hiệu Vivo (không nhớ rõ model), 01 bóp nữ không nhãn hiệu bên trong có 1.500.000 đồng và các giấy tờ gồm giấy đăng ký xe Honda SH Mode biển số 70K1-478.19 và chứng minh nhân dân tên Hồ Thị Hồng P1. Sau đó, Văn T2 đem bán xe cho một đối tượng tên B (chưa rõ lai lịch) với giá 15.000.000 đồng. Đối với điện thoại hiệu Vivo U10, Tao giữ để sử dụng tuy nhiên được vài hôm thì bị hư hỏng nên Văn T2 vứt bỏ cùng với ví quận N, thành phố Cần Thơ, khi vứt ví ở cầu Đ, Văn T2 không biết bên trong có mặt dây chuyền hay không. Do thấy Văn T2 không quay lại, P1 đến Công an P3, Quận E trình báo, vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra theo thẩm quyền.
Về vật chứng: Không thu hồi được vật chứng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Hồ Thị Hồng P1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 141/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Xe gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 70K1-478.19, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75% tại thời điểm định giá tháng 12 năm 2020 có giá 25.000.000 đồng/chiếc (Hai mươi lăm triệu đồng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 18/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Điện thoại di động hiệu ViVo U10, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 40% tại thời điểm định giá tháng 12 năm 2020 có giá 700.000 đồng/chiếc (Bảy trăm nghìn đồng).
Bản cáo trạng số: 102/CT-VKSQ5 ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 174; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T với mức án từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù và buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 28/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã xử phạt và tổng hợp hình phạt Nguyễn Văn T 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù; về trách nhiệm dân sự: Bà Hồ Thị Hồng P1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng) nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi gian dối để bà Hồ Thị Hồng P1 tin tưởng giao cho bị cáo chiếc xe gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 70K1-478.19, trong cốp xe có 01 điện thoại di động hiệu ViVo U10 và số tiền 1.500.000 đồng nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản trên và tiêu xài cá nhân hết. Ngoài ra, bị hại còn khai nhận còn có một mặt dây chuyền bên trong cốp xe, tuy nhiên không cung cấp được thông tin nên không thể tiến hành định giá được. Theo kết quả định giá tài sản kết luận xe gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 70K1-478.19 trị giá 25.000.000 đồng, điện thoại di động hiệu ViVo U10 trị giá 700.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo T đã chiếm đoạt của bị hại là 27.200.000 đồng (Hai mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do bị cáo Nguyễn Văn T có nhiều tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vì lợi ích cá nhân mà đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo có nhiều tiền án chưa được xóa án tích, từng bị Tòa án xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng không biết sửa đổi bản thân, cải tạo thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội. Bản thân bị cáo có nghề nghiệp ôn định là thợ mộc, có thu nhập nhưng vì bản tính tham lam, bất chấp pháp luật mà đã thực hiện hành vi phạm tội liên tục.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự. Đồng thời xem xét tổng hợp hình phạt với bản án hình sự sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 28/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã xử phạt Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đã tổng hợp hình phạt Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HSST ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã xử phạt Nguyễn Văn T 09 (chín) năm tù về tội “Cướp tài sản”; đã tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc phải chấp hành là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[8] Về xử lý vật chứng: Không có thu giữ được vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bà Hồ Thị Hồng P1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng), tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bà P1 số tiền nêu trên, xét đây là sự tự nguyện của các bên trong yêu cầu về dân sự, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận.
Đối với đối tượng “B” là người mua xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 70K1-478.19 của Tao, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục xác minh nhân thân, lai lịch, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Đối với mặt dây chuyền vàng 18K do không có thông tin về trọng lượng nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự không tiến hành định giá, do đó không xử lý đối với Văn T về tài sản trên.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 53; Điều 38; Điều 50; Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T chấp hành hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 28/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã xử phạt và tổng hợp hình phạt Nguyễn Văn T 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt chung của các bản án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành là 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 4 năm 2021.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường cho bị hại Hồ Thị Hồng P1 với số tiền 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bị hại Hồ Thị Hồng P1 có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thanh toán khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 trên số tiền mà bị cáo phải chịu bồi thường.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.250.000 đồng (ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T-Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
