|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày: 16 - 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và bà Trần Thị Yến Nhi.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Vũ Văn B (tên gọi khác: H) – sinh năm: 1992, tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn S (đã chết) và bà Hà Thị H1 – 1977. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 11/12/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích.
- - Ngày 25/12/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Ngày 08/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2024 đến nay. (có mặt)
-
Nguyễn Ngọc P (tên gọi khác: L) – sinh năm: 1987, tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1 – 1957 và bà Nguyễn Thị T – 1960; Vợ: Đã ly hôn; Con: Có 01 con sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 28/8/2012, bị Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi Đánh nhau gây rối, chấp hành xong ngày 24/9/2008.
- Ngày 22/3/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Ngày 07/11/2019, bị Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời gian 06 tháng.
- Ngày 20/8/2021, bị Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời gian 03 tháng.
- Ngày 20/4/2022, bị Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 01/6/2022.
- Ngày 15/6/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.
- Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2024 đến nay. (có mặt)
- Bị hại:
- + Chị Nguyễn Thị Ngọc T1 – sinh năm: 1991. (vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- + Anh Vi Quang Đ – sinh năm: 1993. (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Trương Quốc P1 – sinh năm: 1997. (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- + Anh Phạm Quang M – sinh năm: 1987. (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn B và Nguyễn Ngọc P là bạn bè quen biết với nhau và cùng nghiện ma túy.
Vào khoảng 07 giờ ngày 16/4/2024, Vũ Văn B đến nhà Nguyễn Ngọc P ở Tổ dân phố A, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng chơi. Tại đây, B và P rủ nhau đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng.
P sử dụng xe mô tô hiệu Suzuki màu xanh biển số 49T8-2167 của mình chở B đi xuống khu vực xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai để kiếm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà chị Nguyễn Thị Ngọc T1 ở ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, B và P phát hiện 01 xe mô tô hiệu Honda màu đỏ, đen biển số 49V7-6090 của chị T1 đang dựng trước sân nhà không có người trông coi. P dừng xe lại, B đi vào nhà chị T1 nổ máy xe và cùng P chạy xe ra Quốc lộ B. B và P đem xe mô tô vừa chiếm đoạt được bán cho tiệm thu mua phế liệu của anh Trương Quốc P1 ở ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai được 500.000đ. B và P dùng số tiền bán xe mô tô nêu trên để mua ma túy sử dụng.
Tài sản thiệt hại: 01 xe mô tô hiệu Honda màu đỏ, đen, biển số 49V7-6090. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Đồng Nai xác định trị giá 2.600.000đ.
Ngoài ra, vào khoảng 09 giờ ngày 06/01/2024, Vũ Văn B đi sang nhà anh Vi Quang Đ ở đối diện nhà B ở ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. B thấy nhà anh Đ mở cửa nhưng không có ai ở nhà, B nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Do không có xe nên B đi nhờ xe ra khu vực Ngã ba 142 Quốc lộ B thuộc xã P, B mượn xe mô tô của T2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó, B đi xe mô tô vào nhà anh Đ và lấy 01 máy lọc nước nhãn hiệu Empire để lên xe mô tô và đem đi bán. Trên đường, B bị ngã xe nên chân bị đau. Khi đến tiệm sửa xe của anh Phạm Quang M ở ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. B vào sửa xe, sau đó B bỏ lại máy lọc nước và xin anh M 300.000đ. Sau đó, B gặp T2 và cả hai lên xe mô tô bỏ đi.
Tài sản thiệt hại: 01 máy lọc nước nhãn hiệu Empire. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Đồng Nai xác định trị giá 3.200.000đ.
Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 18/4/2024 Vũ Văn B và Nguyễn Ngọc P ra đầu thú tại Công an xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Tang vật của vụ án:
- - 01 máy lọc nước nhãn hiệu Empire. Hiện đã trao trả cho chủ sở hữu.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển số 49T8-2167 thu giữ của Nguyễn Ngọc P.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Vũ Văn B và Nguyễn Ngọc P đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.
Bản cáo trạng số 94/CT-VKSTP-ĐN ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Vũ Văn B và Nguyễn Ngọc P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo; áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho bị cáo B. Đề xuất mức án đối với các bị cáo, cụ thể:
- - Vũ Văn B từ 20 tháng đến 24 tháng tù.
- - Nguyễn Ngọc P từ 12 tháng đến 14 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Vi Quang Đ đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị Ngọc T1 giá trị xe mô tô là 2.600.000đ.
Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên T2, quá trình điều tra chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Trương Quốc P1 và anh Phạm Quang M: Khi mua tài sản do B và P trộm cắp không biết tài sản này do trộm cắp mà có nên không xử lý.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển số 49T8-2167 của Nguyễn Ngọc P, hiện chưa xác định được nguồn gốc. Do đó, đề nghị tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T tạm giữ, bảo quản để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Văn B và Nguyễn Ngọc P đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 10 giờ ngày 06/01/2024, tại ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Vũ Văn B lén lút chiếm đoạt của anh Vi Quang Đ 01 máy lọc nước nhãn hiệu Empire trị giá 3.200.000đ.
Vào khoảng 08 giờ ngày 16/4/2024, tại ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Vũ Văn B và Nguyễn Ngọc P lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Ngọc T1 01 xe mô tô hiệu Honda màu đỏ, đen, biển số 49V7-6090 trị giá 2.600.000đ.
Hành vi do các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người đã trưởng thành và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo B 02 lần trộm cắp tài sản, do đó hành vi phạm tội của bị cáo cấu thành tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo P: Không có.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về nhân thân: Các bị cáo đã nhiều lần vi phạm pháp luật, thể hiện các bị cáo đều có nhân thân xấu.
[7]. Về hình phạt:
[7.1]. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[7.2]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Vi Quang Đ đã nhận lại tài sản thiệt hại và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Diễm T3 yêu cầu các bị cáo yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản là 01 xe mô tô hiệu Honda màu đỏ, đen, biển số 49V7-6090 với số tiền 2.600.000đ.
Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự quy định về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm: “1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng”
Tại phiên tòa, các bị cáo tự nguyện bồi thường cho chị T3 theo đúng yêu cầu nêu trên. Xét yêu cầu của chị T3 là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử buộc các bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản cho chị T3 với số tiền 2.600.000đ, chia phần cụ thể mỗi bị cáo bồi thường số tiền 1.300.000đ.
[9]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 máy lọc nước nhãn hiệu Empire là tài sản hợp pháp của anh Vi Quang Đ nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho anh Đ là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda màu đỏ, đen, biển số 49V7-6090 của chị Nguyễn Thị Ngọc T1: Sau khi trộm cắp được, các bị cáo đã bán cho anh Trương Quốc P1, anh P1 đã tháo các bộ phận để bán phế liệu nên không thu hồi được.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển số 49T8-2167 của Nguyễn Ngọc P, hiện chưa xác định được nguồn gốc. Do đó, tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T tạm giữ, bảo quản để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
[10]. Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên T2: Quá trình điều tra chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Trương Quốc P1 và anh Phạm Quang M: Khi mua các tài sản do các bị cáo B và P bán nhưng không biết các tài sản này do trộm cắp mà có nên không xử lý.
[11]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, các điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì các bị cáo Vũ Văn B và Nguyễn Ngọc P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
[12]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo; áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho bị cáo B;
- - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điểm a khoản 1 Điều 23, các điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn B và Nguyễn Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Vũ Văn B 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù.
- Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 18 tháng 4 năm 2024.
- - Bị cáo Nguyễn Ngọc P 01 (một) năm tù.
- Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 18 tháng 4 năm 2024.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Vũ Văn B và Nguyễn Ngọc P, mỗi bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc T1 số tiền 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về xử lý vật chứng: Giao 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển số 49T8-2167 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật. (Theo biên bản giao nhận hồ sơ vụ án/vụ việc ngày 18/4/2024).
Về án phí: Buộc các bị cáo Vũ Văn B và Nguyễn Ngọc P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Lợi |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản
