Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 100/2024/HSST

Ngày: 16/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Đô

- Bà Nguyễn Thị Viết Sáu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà nguyễn Thị T – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST- HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST- HS ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:

Lưu Thanh T1; tên gọi khác: không; Sinh ngày 25/8/2003 - tại tỉnh Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT: thôn P, xã N, huyện P, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: làm nông; Con ông Lưu Văn L; sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Kim O; sinh năm 1977; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 20/3/2023, bị Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận xử phạt hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương; đồ vật, phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác” tại Quyết định số 0013650. Ngày 20/3/2023 đã

nộp phạt; Nhân thân: Ngày 28/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 85/2020/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 02/10/2021 (tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội T1 là người dưới 18 tuổi); Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 20/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  1. Võ Thành N – sinh năm 1960 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Khu phố I, phường B, Tp ., tỉnh Bình Thuận.
  2. Nguyễn Văn T2 – sinh năm 1977 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 20/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Lưu Thanh T1 điều khiển xe mô tô biển số 72G1 - 668.77 đến khu vực ngã 3 S, thuộc xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân) nhờ mua 500.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý đi mua ma túy đá cho T1. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông trên quay lại và đưa cho T1 một gói nylon bên trong chứa ma túy đá. Mua được ma túy, T1 cất dấu trong túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực siêu thị C để chở Nguyễn Văn T2 về xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (T2 có điện thoại nhờ T1 từ trước). Đến 15 giờ 45 cùng ngày, khi T1 chở T2 ngồi phía sau đi đến trước khu vực cửa hàng G, trên đường T, thuộc khu phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận thì bị tổ tuần tra Đội Cảnh sát giao thông trật tự và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường B yêu cầu dừng xe kiểm tra thì phát hiện bắt quả tang T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã đưa T1T2 cùng tang vật về trụ sở Công an phường B để làm việc.

Quá trình điều tra, Lưu Thanh T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, T1 khai nhận số ma túy bị thu giữ T1 mua về để sử dụng, chứ không nhằm mục đích bán cho người khác. T1 khai việc T1 mua

ma túy đá và tàng trữ ma túy T2 không biết, T2 cũng không góp tiền cùng với T1 để mua ma túy về sử dụng.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước (0,4 x 7,5) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của T1, được kí hiệu M khi giám định).
  • 01 xe mô tô hiệu Srius màu đỏ đen, biển số 72G1 – 668.77 số máy: E32VE-035855; số khung: RLCUE3720KY00961 (thu giữ của Lưu Thanh T1).

Tại Bản kết luận giám định số 110/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 2,3391 gamMethamphetamine.

H lại mẫu vật gửi đến giám định: 01 gói nylon và 2,2070 gam mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 110, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.

Xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy còn lại sau giám định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Srius màu đỏ đen, biển số 72G1 – 668.77, quá trình điều tra xác định: chủ sở hữu là Nguyễn Hữu T3. Ngày 20/01/2024, T1 mượn xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại, T3 không biết việc T1 sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma tuý về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu. Anh Nguyễn Hữu T3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố Lưu Thanh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm

truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận gì với Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 15 giờ 45 phút ngày 20/01/2024, tại trước khu vực cửa hàng G trên đường T, thuộc khu phố A, phường B, thành phố P, Lưu Thanh T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,3391 gam ma túy là Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng qui định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhận thức đầy đủ về hành vi của mình với xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người và gây nhiều hệ lụy cho xã hội. Bị cáo nhận thức được M là loại ma túy

gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ...... trái phép. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn xem thường pháp luật, đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bất chấp hậu quả pháp luật.

Hành vi của bị cáo thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội nên cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự và áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc nhằm để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành thành khẩn khai báo. nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của bị cáo xét thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên việc tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thêm một thời gian nhất định là cần thiết.

[5] Biện pháp tư pháp:

  • Xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định theo quy định của pháp luật.

[7] Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn T2 là người ngồi sau xe được T1 chở nhưng T2 không biết việc T1 tàng trữ trái phép chất ma túy. T2 cũng không góp tiền chung với T1 để mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T2 là có căn cứ.

Đối với đối người đàn ông (là người đi mua ma túy cho T1) do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Tuyên bố: Bị cáo Lưu Thanh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Xử phạt: Lưu Thanh T1 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/01/2024.

* Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên xử:

- Tịch thu tiêu hủy 2,2070 gam mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì màu trắng được niêm phong số 110, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K – Công an tỉnh B. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 112 ngày 06/5/2024).

- Về án phí: Căn cứ khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lưu Thanh T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp. Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an tp Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Tòa

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 100/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger