Hệ thống pháp luật

TAND QUẬN N

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HSST

Ngày: 16/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Đình Q và ong Nguyễn Tiến C

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Dáng H - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/4/2024, tại trụ sở TAND quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/HSST ngày 26/3/2024, đối với bị cáo:

Trần Ngọc T, sinh năm 1985; Giới tính: Nam

Nơi ĐKNKTT: Cụm 9, T, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

Con ông Trần Xuân K và bà Lê Thị N

Bị cáo có vợ là Nông Thị H, sinh năm 1986, có 01 con sinh năm 2011

Tiền án: Có 02 tiền án: Tại bản án số 78/2017/HSST ngày 10/5/2017 của TAND quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 04/2/2020.

Tại bản án số 121/2021/HSST ngày 21/6/2021 của TAND quận Nam Từ Liêm, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 06/5/2021.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

Tại bản án số 142/2009/HSST ngày 29/6/2009 của TAND huyện Từ Liêm, Hà Nội xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 30/8/2009.

Tại bản án số 31/2012/HSST ngày 20/6/2012 của TAND huyện Đan Phượng, Hà Nội xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 16/6/2014.

Bị tạm giữ từ ngày 08/01/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; Số giam 248E2/6B - Có mặt

Người bị hại: Chị Bùi Thị Y, sinh năm 2002 – Vắng mặt

Cư trú: Số B, L, M, quận N, thành phố H

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Trần Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, mới ra tù tháng 6 năm 2023, do không có tiền nên T nảy sinh ý định đi trộm cắp xe máy để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Ngày 05/01/2024, T tình cờ gặp đối tượng T1 (hiện chưa xác định được, T khai quen biết từ khoảng cuối năm 2019 do cả haicùng chấp hành án tại trại giam T4) và được T1 rủ đi trộm cắp xe máy, T đồng ý. Sau đó T2 mua 01 sim mới (hiện T không nhớ số sim) lắp vào điện thoại nhãn hiệu Nokia 110i màu trắng viền màu đen để sử dụng liên lạc với T1.Khoảng 13 giờ ngày 08/01/2024, T1 điều khiển xemáy (hiện chưa xác định được nhãn hiệu xe và biển kiểm soát xe) đến đón T đi trộm cắp xe máy. Khi gặp nhau, T1 đưa cho T 01 tay vam, 03 đầu nhọn, 02 chìa khóa xe bằng kim loại để phá khóa xe và chở T đi lòng vòng nhiều tuyến đường khác nhau để tìmvà trộm cắp xe máy. Trên đường đi, T1 đã đổi cho T cầm lái xe máy nên T đã làm rơi mất chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 110i màu trắng (không xác định được địa điểm). Khi cả hai đi đến khu vực tòa GS1, khu đô thị V, phường T, quận N, Hà Nội thì T phát hiện thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc BKS: 26G1-292.21 của chị Bùi Thị Y (sinh năm: 2002; HKTT: xóm K, xã P, TP T, tỉnh Thái Nguyên) dựng trên vỉa hè ở sảnh Tòa GS1, không có người trông giữ nên đã dùng xe và bảo T1 đứng ở ngoài cảnh giới,còn T đi vàodùng vam phá khóa phá để khóa xevà nổ máy nhưng do xe không nổ máy được nên T tiếp tục cạy phần ổ khóa thì bị anh Nguyễn Xuân T3 (Sinh năm 2000; HKTT: Xóm A, thôn A, xã P, Q, Hà Nội) và anh Đào Văn H1 (Sinh năm: 1985; HKTT: xóm F, thôn B xã P, Q, Hà Nội) – là nhân viên bảo vệ phát hiện bắt giữ cùng tang vật, đối tượng “Thung” thấy T bị bắt nên đã phóng xe bỏ chạy thoát.

Vật chứng thu giữ:

01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 26G1-292.21 (số khung: Y290817, số máy: 1629215); 01 tuýp vặn tay bằng kim loại dài 15cm; 02 chìa khóa xe bằng kim loại; 03 đầu van bằng kim loại dùng để cậy phá xe; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh imei: 357723114880731, gắn sim số 0346749714.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 34 ngày 17/01/2024của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N, xác định: chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 26G1-292.21, số khung: Y290817, số máy: 1629215, đăng ký lần đầu ngày 15/03/2021, đã qua sử dụng, có trị giá 13.000.000đ.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSNTL ngày 22/3/2024 của VKSND quận N, thành phố H đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 47 BLHS; Điều 106 BLTTDS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động, tịch thu tiêu hủy 01 tuýp văn tay bằng kim loại, 02 chìa khóa xe bằng kim loại, 03 van bằng kim loại.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 53 ngày 22/3/2024 của VKSND quận N đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra những người này đã có lời khai thể hiện: Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Về hình phạt đề nghị xét xử theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 14 giờ10 phút ngày 08/01/2024, tại khu vực trước tòa GS1, khu đô thị V, phường T, quận N, Hà Nội, Trần Ngọc T đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, BKS: 26G1-292.21, trị giá 13.000.000đ của chị Bùi Thị Y. Vật chứng đã thu hồi và trao trả cho bị hại. Bị hại không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.

Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng nơi xảy ra tội phạm.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo đang tái phạm về hành vi chiếm đoạt tài sản, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tăng nặng nên không bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Từ phân tích và nhận định trên, xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động, tịch thu tiêu hủy 01 tuýp văn tay bằng kim loại, 02 chìa khóa xe bằng kim loại, 03 van bằng kim loại.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47 BLHS; Điều 106, 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Trần Ngọc T 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ 08/01/2024.

Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh Imei: 357723114880731, có gắn sim, tịch thu tiêu hủy 01 tuýp van vặn tay bằng kim loại dài 15cm, 02 chìa khóa xe bằng kim loại, 03 đầu van bằng kim loại dùng để cậy phá xe. (Đặc điểm vật chứng đúng như biên bản giao nhận vật chứng số 146 ngày 26/3/2024 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận N).

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND thành phố H
  • - VKSND cùng cấp
  • - Thi hành án, Công an quận
  • - Bị cáo, người bị hại
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn V

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HSST ngày 16/04/2024 của TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 100/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Thuần phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger