|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-8-2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Thắng.
- Ông Nguyễn Văn Phước.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 29/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đắc H, sinh ngày 17/4/1982; CCCD số: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; địa chỉ: Đ, thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Hồ Thị Kim H1, sinh ngày 06/10/1993; địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 26/3/2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Nguyễn Đắc H trình bày:
Anh Nguyễn Đắc H và chị Hồ Thị Kim H1 tự nguyện đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn vào ngày 07/5/2020 tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của bố mẹ anh H tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Vợ chồng chung sống khoảng 03 năm, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi vã; nên chị H1 bỏ về sinh sống với bố mẹ mình ở thôn H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tình trạng mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn nên anh H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị H1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Nguyễn Đắc Anh K, sinh ngày 15/12/2019 và cháu Nguyễn Đắc Anh D, sinh ngày 24/10/2022. Hiện đang sinh sống với anh H, nên anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con cho đến lúc thành niên và không yêu cầu chị H1 đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là chị Hồ Thị Kim H1, mặt dù đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng chị H1 không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Ngày 12/7/2024, Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng chị H1 không đến, tiếp đó ngày 01/8/2024 Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định lại thời gian địa điểm xét xử, nhưng chị H1 vẫn tiếp tục vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn nhiều lần vắng mặt là không chấp hành quy định pháp luật để thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục chung.
- Về việc giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Đắc H và chị Hồ Thị Kim H1 kết hôn hợp pháp.
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho anh Nguyễn Đắc H được ly hôn với chị Hồ Thị Kim H1; quá trình chung sống có hai người con chung là cháu Nguyễn Đắc Anh K, sinh ngày 15/12/2019 và cháu Nguyễn Đắc Anh D, sinh ngày 24/10/2022. Hiện cả hai cháu đang sinh sống ổn định với anh H, nên tiếp tục giao các cháu cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc thành niên. Do anh H không yêu cầu chị H1 đóng góp cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu nên không xét. Án phí ly hôn anh H phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là chị Hồ Thị Kim H1 có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
- Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không thuộc trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đắc H và chị Hồ Thị Kim H1 kết hôn có đăng ký, được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/5/2020. Thời điểm đăng ký có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[3] Về yêu cầu ly hôn: Trên cơ sở trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng:
Anh H yêu cầu ly hôn với chị H1 do vợ chồng không hợp về tình cách, quan điểm trong cuộc sống. Sau khi nảy sinh mâu thuẫn chị H1 bỏ về nhà bố mẹ sinh sống và bỏ mặc chồng con, không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, nên tình trạng mâu thuẫn kéo dài. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần, nhưng chị H1 cố tình vắng mặt, chứng tỏ chị H1 không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình, nên tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể hàn gắn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu cho anh H được ly hôn với chị H1. Như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
[4] Về con: Vợ chồng có có hai người con là cháu Nguyễn Đắc Anh K, sinh ngày 15/12/2019 và cháu Nguyễn Đắc Anh D, sinh ngày 24/10/2022. Hiện cả hai cháu đang sinh sống ổn định với anh H, nên tiếp tục giao các cháu cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc các con tròn 18 tuổi. Do anh H không yêu cầu chị H1 đóng góp cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Anh H không có yêu cầu giải quyết nên không xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đắc H. Cho anh Nguyễn Đắc H được ly hôn với chị Hồ Thị Kim H1; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đắc Anh K, sinh ngày 15/12/2019 và cháu Nguyễn Đắc Anh D, sinh ngày 24/10/2022. cho anh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc các con tròn 18 tuổi. Chị H1 không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Đắc H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000839 ngày 01/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; anh H đã nộp đủ án phí.
- Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đạt |
Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh H xin ly hôn chị H1 vì mâu thuẫn gia đình
