TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2024/HS-PT Ngày: 10/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Thành;
Ông Nguyễn Thành Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Ngà - Kiểm sát viên.
Ngày 10/9/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 95/2024/TLPT-HS ngày 05/8/2024 đối với bị cáo Dương Ú do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: Dương Út, sinh ngày 01/01/1992 tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương T, sinh năm 1951 (còn sống) và bà Lâm Thị V, sinh năm 1952 (còn sống); Bị cáo có vợ tên Trần Thị M (đã ly hôn), có 01 đứa con, sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án (vào năm 2013 có hành vi cướp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện Trần Đề xử phạt 09 năm tù giam, chấp hành xong bản án vào ngày 12/6/2022), chưa được xóa án tích. Bị cáo Dương Ú bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/3/2024 đến nay. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lý B – Luật sư thực hiện trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Địa chỉ Trung tâm: Số A, đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị cáo Lê D, Sơn N; Bị hại Hứa Ngọc C, Quách Văn Đ; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ong Thị Bé L, Ong M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 01/12/2023, bị cáo Lê D chạy xe đến nhà bị cáo Dương Út c, đến khoảng 18 giờ thì Ú rủ D nhậu trong lúc nhậu Ú rủ D đi bắt ba khía. Đến khoảng 19 giờ, bị cáo D lấy xe chở bị cáo Ú về nhà D để mượn chiếc xuồng của Lý T1 gần nhà của D. Ú gặp T1 hỏi mượn xuồng để đi bắt ba khía thì Tiên đồng ý. Sau đó Ú bơi một chiếc xuồng của Ú đậu gần nhà D còn D bơi xuồng của T1 về nhà của Ú. Khi về đến nhà, bị cáo Ú gặp bị cáo Sơn N là anh rể của Ú đang dở đuôi chuột (dụng cụ đặt cá tép) dưới kênh, Ú rủ N đi bắt ba khía, nên N đồng ý. Khi đi bơi xuồng từ Kênh 81 theo hướng lên khu vực ấp T, xã L. Khi bơi đi được một đoạn khoảng 01 km, cả ba đậu cập xuồng vào bờ kênh, các bị cáo Ú, D, N cùng lên bờ đi vào ao tôm của ông Quách Văn Đ (sinh ngày 01/01/1980, Nơi thường trú: Ấp T, xã L) đã cạn nước, Ú nhìn thấy một cái máy dầu loại máy D9 nhãn hiệu EM và một cái giảm tốc hiệu Disico để trên bờ ao có gắn vào giàn sắt, quan sát không có ai trông coi, nên bị cáo Ú dùng chìa khóa 17 mang theo sẵn để mở ốc máy ra khỏi giàn sắt si, mở xong bị cáo D và bị cáo N khiêng máy dầu cùng giảm tốc có giàn sắt si đem xuống xuồng. Sau đó cả 3 bị cáo tiếp tục bơi xuồng đi một đoạn, đến ao tôm của ông Hứa Ngọc C (sinh ngày 01/01/1956, Nơi thường trú: Ấp T, xã L), quan sát không thấy ai trông coi nên các bị cáo tiếp tục lấy trộm một cái máy dầu D9 nhãn hiệu EZ và cái đùi xe đều gắn vào giàn sắt đem xuống xuồng, bơi xuồng về nhà của D, mang những tài sản vừa trộm được giấu vào bụi lá dừa nước gần nhà bị cáo D. Bị cáo Ú kéo xuồng lên bờ trả xuồng cho T1 còn bị cáo Ú cùng N bơi xuồng về nhà của Ú, sau đó tất cả đi về nhà ngủ. Đến sáng ngày 02/12/2023, bị cáo Ú bơi xuồng qua nhà D để lấy tài sản lấy trộm và đi bán. Sau đó bị cáo Ú liên hệ và bán 02 cái máy dầu, giảm tốc, đùi xe cho người mua phế liệu bà Ong Thị Bé L (sinh ngày 03/3/1986, Nơi thường trú: Ấp Đ, xã V, huyện T) với giá là 6.000 đồng một kílôgam. Do nghi ngờ, sợ mua tài sản trộm cắp nên bà L trình báo nên Công an xã L và Công an huyện T kiểm tra và lập biên bản tạm giữ tài sản
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50 ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, kết luận: Tổng giá trị tài sản các đối tượng đã trộm cắp gồm: 01 máy dầu D9 nhãn hiệu EM, không có bình dầu, máy đã qua sử dụng; 01 máy dầu D9 hiệu EZ không có bình dầu, không có ống xả, đã qua sử dụng; giảm tốc hiệu Disico được gắn trên giàn sắt xi có kích thước 01m x 0,47m x 0,4m đã qua sử dụng và 01 đùi xe không nhãn hiệu gắn trên giàn sát xi, có kích thước 95cm x 85cm x 50cm đã qua sử dụng là 2.331.000 đồng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Út .
- - Tuyên bố bị cáo Dương Ú phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Dương Ú 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- - Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn kết tội và xử phạt đối với bị cáo Lê D, S, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
* Ngày 09/7/2024, bị cáo Dương Ú kháng cáo xin giảm hình phạt và cho hưởng án treo.
* Tại phiên tòa, bị cáo Dương Út g nguyên nội dung kháng cáo, do biết hành vi đã sai phạm và rất hối hận, bị cáo là người dân tộc Khmer, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, không làm ra tiền để nuôi cha mẹ.
* Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Thống nhất về tội danh và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm quyết định mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Dương Út 1 và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 09/7/2024 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào khoảng hơn 19 giờ 00 phút ngày 01 tháng 12 năm 2023, tại Kênh H khu vực ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Trong lúc đi bắt ba khía, các bị cáo Ú, D, N cùng lên bờ đi vào ao tôm của ông Quách Văn Đ (sinh ngày 01/01/1980, Nơi thường trú: Ấp T, xã L) đã cạn nước, Ú nhìn thấy một cái máy dầu loại máy D9 nhãn hiệu EM và một cái giảm tốc hiệu Disico để trên bờ ao có gắn vào giàn sắt, quan sát không có ai trông coi, nên bị cáo Ú dùng chìa khóa 17 mang theo sẵn để mở ốc máy ra khỏi giàn sắt si, mở xong bị cáo D và bị cáo N khiêng máy dầu cùng giảm tốc có giàn sắt si đem xuống xuồng. Sau đó cả 3 bị cáo tiếp tục bơi xuồng đi một đoạn, đến ao tôm của ông Hứa Ngọc C (sinh ngày 01/01/1956, Nơi thường trú: Ấp T, xã L), quan sát không thấy ai trông coi nên các bị cáo tiếp tục lấy trộm một cái máy dầu D9 nhãn hiệu EZ và cái đùi xe đều gắn vào giàn sắt đem xuống xuồng, bơi xuồng về nhà của D, mang những tài sản vừa trộm được giấu vào bụi lá dừa nước gần nhà bị cáo D. Bị cáo Ú kéo xuồng lên bờ trả xuồng cho T1 còn bị cáo Ú cùng N bơi xuồng về nhà của Ú, sau đó tất cả đi về nhà ngủ. Đến sáng ngày 02/12/2023, bị cáo Ú bơi xuồng qua nhà D để lấy tài sản lấy trộm và đi bán. Sau đó bị cáo Ú liên hệ và bán 02 cái máy dầu, giảm tốc, đùi xe cho người mua phế liệu bà Ong Thị Bé L (sinh ngày 03/3/1986, Nơi thường trú: Ấp Đ, xã V, huyện T) với giá là 6.000 đồng một kílôgam. Do nghi ngờ, sợ mua tài sản trộm cắp nên bà L trình báo nên Công an xã L và Công an huyện T kiểm tra và lập biên bản tạm giữ tài sản. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50 ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, kết luận: Tổng giá trị tài sản các đối tượng đã trộm cắp gồm: 01 máy dầu D9 nhãn hiệu EM, không có bình dầu, máy đã qua sử dụng; 01 máy dầu D9 hiệu EZ không có bình dầu, không có ống xả, đã qua sử dụng; giảm tốc hiệu Disico được gắn trên giàn sắt xi có kích thước 01m x 0,47m x 0,4m đã qua sử dụng và 01 đùi xe không nhãn hiệu gắn trên giàn sát xi, có kích thước 95cm x 85cm x 50cm đã qua sử dụng là 2.331.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Dương Ú phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Dương Ú về việc xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy: Cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xác định bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc Khmer sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm quyết định mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Dương Ú là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Dương Ú về việc xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù; cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc Khmer sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cấp phúc thẩm áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; Bị cáo có 01 tiền án là có nhân thân xấu. Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Từ những nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo, chấp nhận một phần đề nghị của người bào chữa, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo được miễn theo quy định pháp luật.
[7] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1, 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Dương Ú về việc xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Dương Ú 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Dương Ú được miễn án phí phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 100/2024/HS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 100/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
