|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày: 10/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Quang
- Ông Hoàng Văn Hùng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà:
Bà Lương Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 10/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLST- HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST- HS, ngày 27 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Lý Văn M, sinh ngày 20/12/1999 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; Dân tộc: Cao Lan; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Lý Văn Đ, sinh năm 1978; con bà: Âu Thị P, sinh năm 1977; Vợ: Kim Thanh H, sinh năm 1997; con: 01 con, sinh năm 2021; A, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai.
- Tiền án:
- + Bản án số 103 ngày 08/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Ngày 01/5/2020 chấp hành xong toàn bộ bản án);
- + Bản án số 73 ngày 30/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Ngày 14/3/2024 chấp hành xong hình phạt tù).
- Nhân thân: Quyết định áp dụng biện pháp tại xã, phường, thị trấn số 191 ngày 30/12/2021 của UBND xã Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đối với Lý Văn M, đến ngày 29/3/2022 chấp hành xong.
1
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Hoàng Văn D, sinh năm 1961; trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Tống Văn T, sinh năm 1983; trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 29/6/2024, Lý Văn M đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ đen, biển số 98B1-769.27 (xe của M) từ nhà đến thôn H, xã Đ, huyện S, mục đích để trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khi đi đến nhà ông Hoàng Văn D, M quan sát thấy có 01 xe đạp điện nhãn hiệu Giant màu đỏ đen dựng ở sân không có ai trông coi quản lý. M nảy sinh ý định lấy trộm bình ắc quy của xe đạp điện. M dựng xe mô tô ở góc sân rồi đi đến vị trí xe đạp điện dùng tay bẻ nắp hộp nhựa đựng bình ắc quy, lấy 04 bình ắc quy đựng trong khay nhựa màu đen để lên giá hàng phía trước xe mô tô rồi điều khiển xe mô tô đến cửa hàng thu mua phế liệu ở thôn T, xã P, huyện S của anh Tống Văn T bán được 280.000đ. Sau đó M điều khiển xe mô tô đến khu vực phường N, thành phố T mua 200.000₫ ma túy của người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ mang về khu vực đồi cây keo thuộc thôn Y, xã Đ, huyện S sử dụng hết bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể, số tiền còn lại M chi tiêu cá nhân hết.
Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: 04 bình ắc quy xe đạp điện màu đen loại 12V-12Ah, đã qua sử dụng, tính đến thời điểm bị trộm cắp trị giá 1.376.000đ (một triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 30/6/2024, gia đình Lý Văn M đã bồi thường 04 bình ắc quy cho ông Hoàng Văn D.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện S thu giữ của Lý Văn M 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ đen, biển số 98B1-769.27.
Cáo trạng số 98/CT-VKSSD, ngày 08/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Lý Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- - Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2
Xử phạt: Bị cáo Lý Văn M từ 09 tháng đến 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (02/7/2024). Không đề nghị hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hoàng Văn D không đề nghị bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xem xét.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ đen, biển số 98B1-769.27. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX buộc bị cáo nộp tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn M thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Biên bản khám nghiệm, xác minh hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, lời khai của bị hại và những tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của bị hại; căn cứ vào Biên bản khám nghiệm, xác minh hiện trường và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 07 giờ ngày 29/6/2024, Lý Văn M đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, có hành vi trộm cắp 04 bình ắc quy xe đạp điện loại 12V-12Ah, trị giá 1.376.000đ (một triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) của ông Hoàng Văn D, trú tại thôn H, xã Đ, huyện S.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Lý Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, đã 02 lần bị xử phạt về cùng loại tội trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành xong bản án bị cáo không lấy đó làm bài học, mà lại tiếp tục trộm cắp tài sản để có tiền mua ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân, tuy giá trị tài sản bị cáo trộm cắp dưới 2.000.000đ nhưng do bị cáo đã có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là yếu tố định tội đối với bị cáo. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác
3
dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận xử phạt bị cáo trong mức án mà Viện kiểm sát đề nghị.
Do bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về phần dân sự: Bị hại đã được đền bù 04 bình ắc quy khác, nên không có đề nghị bị cáo bồi thường gì thêm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Tống Văn T không có yêu cầu gì.
Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ đen, biển số 98B1-769.27, xe không có gương chiếu hậu và yếm hai bên, phần vỏ nhựa xung quanh xe đã vỡ, hỏng nhiều vị trí, xe cũ đã qua sử dụng. Đây là phương tiện bị cáo và gia đình sử dụng hàng ngày nên trả lại cho bị cáo, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lý Văn M, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã chuyển tài liệu đến Công an huyện S để xử lý theo thẩm quyền.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lý Văn M ở khu vực phường N, thành phố T do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Do đó, HĐXX không xem xét.
[8] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành
4
vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
- - Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- 1. Về hình phạt:
- Xử phạt: Bị cáo Lý Văn M 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (02/7/2024).
- 2. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo Lý Văn M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ đen, biển số 98B1-769.27, xe không có gương chiếu hậu và yếm hai bên, phần vỏ nhựa xung quanh xe đã vỡ, hỏng nhiều vị trí, xe cũ đã qua sử dụng, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
- (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)
- 3. Về án phí và quyền kháng cáo:
- - Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án (đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình) trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
5
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Văn Quang - Hoàng Văn Hùng |
Hoàng Thị Minh Khánh |
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
7
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 07 giờ ngày 29/6/2024, L.V.M đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, có hành vi trộm cắp 04 bình ắc quy xe đạp điện loại 12V-12Ah, trị giá 1.376.000đ (một triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) của ông H.V.D, trú tại thôn HS, xã ĐT, huyện SD.
