|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày: 10-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Được, ông La Văn Hợp
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nông Quang Chung - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
* Họ và tên: NGUYỄN VĂN T1; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1998; tại Bình Phước; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Tổ D, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Xuân T, sinh năm 1962 và bà: Phạm Thị L, sinh năm 1965; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;
Tiền án:
- - Ngày 27/7/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 78/2017/HS-ST), án phí nộp ngày 07/9/2017, chấp hành xong hình phạt ngày 27/12/2017.
- - Ngày 04/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 48/2018/HS-ST), án phí nộp ngày 30/11/2018, chấp hành xong hình phạt ngày 27/9/2019.
- - Ngày 28/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 79/2020/HS-ST), án phí nộp ngày 20/10/2020, chấp hành xong hình phạt ngày 18/01/2023.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Lâm Khang D, sinh năm 2005; Nơi ở: Khu phố P, phương T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, có đơn xin vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lâm Thị Ta V, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Tổ H, ấp A, xã N, huyện C, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 09/01/2024, Lê Đăng D1 (chưa rõ nhân thân) điều khiển xe mô tô hiệu Exciter biển số 83P3 – 045.02 chở Nguyễn Văn T1 từ xã T, huyện Đ đi thành phố Đ chơi. Khoảng 15 giờ, khi cả hai đi qua dãy nhà trọ “Linh T2” tại số C N, khu phố P, phường T, thành phố Đ thì phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 93P2 – 356.51 của chị Lâm Thị Ta V (do anh Lâm Khang D là con chị V điều khiển) đang dựng trên hành lang của nhà trọ nhưng không thấy có người trông coi, D1 rủ T1 lấy trộm chiếc xe trên thì T1 đồng ý. D1 đưa cho T1 01 thanh kim loại dùng để phá ổ khóa xe mô tô, còn D1 thì dừng xe đứng ngoài đường cảnh giới, T1 lén lút đi vào dắt chiếc xe mô tô biển số 93P2 – 356.51 ra ngoài đường rồi dùng thanh kim loại để mở ổ khóa xe. Sau khi mở được ổ khóa, T1 và D1 điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được đi đến 01 lô cao su thuộc xã T, huyện Đ. T1 tháo biển số 93P2-356.51 trên xe Wave để gắn lên xe mô tô Exciter và tháo biển số 83P3-045.02 trên xe Exciter gắn lên xe mô tô Wave rồi cất giấu chiếc xe mô tô Wave tại lô cao su này. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, D1 điều khiển xe mô tô Exciter và T1 điều khiển xe Wave cùng nhau đi đến xã B, huyện P với mục đích bán chiếc xe Wave lấy tiền chia nhau tiêu xài. Trên đường đi thì lực lượng Công an xã L đang làm nhiệm vụ tuần tra ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra thì D1 và T1 điều khiển xe bỏ chạy, được một đoạn thì T1 bị mất lái ngã xuống đường, lực lượng Công an xã L đưa T1 về trụ sở để làm việc, tại đây T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau đó Công an xã L thông báo Công an thành phố Đ để giải quyết theo thẩm quyền
Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T1.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 93P2-356.51, số khung 390XHY803742, số máy JA39E0783909 xe còn hoạt động bình thường, trị giá 4.500.000 đồng
Tại bản Cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g, khoản 2, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự: Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng;
Trách nhiệm dân sự và vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 83P3- 045.02 (biển số đã bị đổi), ngày 21/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại xe cho chủ sở hữu hợp pháp và không có yêu cầu gì về bồi thường nên không đặt ra.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội; không tranh luận; xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Theo lời khai của Nguyễn Văn T1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa khai nhận: Ngày 09/01/2024, T1 cùng Lê Đăng D1 (không rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe mô tô hiệu Exciter biển số 83P3-045.02 từ xã T, huyện Đ đi thành phố Đ chơi, khi đi đến dãy nhà trọ “Linh T2” thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ thì phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 93P2-356.51 dựng trên hành lang nhà trọ. D1 rủ T1 lấy trộm chiếc xe và đưa cho T1 01 thanh kim loại dùng để phá ổ khóa xe, T1 vào dắt chiếc xe ra ngoài đường và dùng thanh kim loại để mở ổ khóa xe. Khi mở được ổ khóa T1 điều khiển xe vừa trộm cắp được đến 01 lô cao su thuộc xã T, huyện Đ tháo biển số 93P2-356.51 trên xe Wave để gắn lên xe mô tô Exciter và tháo biển số 83P3 - 045.02 trên xe Exciter gắn lên xe mô tô Wave rồi cất giấu chiếc xe mô tô Wave tại lô cao su này. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, D1 và T1 đến lấy xe điều khiển về xã B, huyện P để bán, nhưng trên đường đi thì bị lực lượng Công an xã L, huyện P dừng lại kiểm tra hành chính, T1 bỏ chạy được một đoạn thì ngã xuống đường và bị bắt, còn D1 trốn thoát.
Xét lời khai của Nguyễn Văn T1 phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản kiểm tra hành chính, biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật và các tài liệu - chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; thấy phù hợp về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Ngày 09/01/2024, Nguyễn Văn T1 lén lút chiếm đoạt của anh Lâm Khang D 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 93P2 -356.51 có trị giá 4.500.000 đồng, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Nguyễn Văn T1 từ năm 2017 đến nay nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của công dân và bị Tòa án kết án nhưng không có hướng sửa chữa, ngày 09/01/2024 tiếp tục phạm tội và lần phạm tội này thuộc trường hợp “Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật hình sự. Do đó, Nguyễn Văn T1 bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[4] Nguyễn Văn T1 là người đã trưởng thành, có đủ năng lực hành vi dân sự và ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích vụ lợi mà cố ý thực hiện. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm đến tài sản của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ, do vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo sống biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng tài sản của công dân.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Đối với Lê Đăng D1 là người cùng bị cáo thực hiện vụ trộm cắp tài sản, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra và xử lý sau.
[6] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 83P3-045.02 (đã bị tráo đổi biển số), số khung 390XHY803742, số máy JA39E0783909, ngày 21/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại cho bị hại và không có yêu cầu gì về bồi thường nên hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.
Xử phạt: Nguyễn Văn T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 10/01/2024
Nguyễn Văn T1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thu Huệ |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
