|
TAND HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày 09/8/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Ông Trần Thanh Thuận;
2/Ông Vũ Ngọc Côn.
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/ HSST ngày 05/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Xuân T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Năm 1997 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trú quán: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Xuân B, sinh năm 1967; Con bà: Trương Thị H, sinh năm 1971; Bị cáo có vợ: Vi Thị Phương T1, sinh năm 2001 và 01 con, sinh năm 2019; Đều trú tại: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương (có mặt).
* Bị hại: Cháu Hoàng Văn V, sinh ngày 16/12/2008 (Đã chết)
Trú quán: Thôn T, xã Đ, huyện L, tinh B.
* Người đại diện hợp pháp cho người bị hại:
- - Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1977 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Trú quán: Thôn T, xã Đ, huyện L, tinh B.
- - Ông Phạm Công B1, sinh năm 1978
- Trú quán: Thôn H, xã Đ, huyện L, tinh B.
- (Ông Phạm Công B1 ủy quyền cho bà Hoàng Thị M tham gia tố tụng).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đinh Thị L, sinh năm 1986 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Trú quán: Thôn Bá Thủy, xã Long Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
- Anh Nguyễn Duy M1, sinh năm 2005 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Trú quán: Thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Trú quán: Tổ E, phường C, TP T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/3/2024, Nguyễn Xuân T, sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu FOTON, loại THACO OLLIN700C, màu sơn Xanh, biển kiểm soát 20C - 253.79 chở bao bì (túi nhựa) đi từ huyện L về xưởng may của nhà T tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng 11 giờ 52 phút, khi T điều khiển xe đi đến đoạn km28+650 đường Q, thuộc thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì va chạm với xe máy nhãn hiệu J-Pan, loại RS J-Pan, màu sơn Xanh – Bạc, biển kiểm soát 98AE - 069.15 do cháu Hoàng Văn V, sinh ngày 16/12/2008, trú tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển, V đang điều khiển xe máy sang đường từ phải sang trái theo chiều đi của T đi từ đường liên thôn C đi ngang qua đường Q. Sau đó, xe ô tô của T tiếp tục va chạm với xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, loại THACO FRONTIER K200, màu sơn Xanh, biển kiểm soát 34C-363.69 do anh Nguyễn Duy M1, sinh năm 2005, trú tại thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương điều khiển theo hướng ngược chiều. Hậu quả: 03 phương tiện trên và 02 chiếc điện thoại, mũ bảo hiểm của cháu V bị hư hỏng; cháu V và anh M1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện L. Sau đó, cháu V được chuyển đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, Bệnh viện H1, đến ngày 03/4/2024 thì tử vong. Anh M1 bị xây xát nhẹ điều trị tại Trung tâm Y tế huyện L và ra viện cùng ngày 11/3/2024.
Ngay sau khi xảy ra va chạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Xuân T và Nguyễn Duy M1, kết quả: 0,000mg/l. Kết quả xét nghiệm cồn (ethanol) trong máu tại Trung tâm Y tế huyện L đối với Hoàng Văn V: Không phát hiện (BL: 269-270; 324-325, 434). Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, khám nghiệm tử thi và tiến hành xác minh, điều tra theo quy định.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra tại Km28+650 Quốc lộ C, thuộc địa phận thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, là đoạn đường cong về bên trái theo hướng Bắc Giang đi S; chiều rộng lòng đường là 11m; lòng đường có vạch kẻ đứt đoạn màu vàng chia lòng đường thành hai phần, mặt đường trải nhựa áp phan phẳng. Nơi xảy ra tai nạn là nơi giao nhau với đường không ưu tiên, thuộc khu vực hạn chế tốc độ (tối đa 60km/h). Tại lề đường phải ở mỗi chiều đường cách nơi xảy ra tai nạn 50 m có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên; hai bên lề đường có lề bê tông rộng 0,5m. Mép chuẩn và điểm mốc: Mép đường phải chiều đường S đi Bắc Giang làm chuẩn; lấy cột điện lưới ký hiệu (1.2).7/T.X làm mốc. 01 dấu vết mài trượt mặt đường màu đen hình cung theo hướng Bắc Giang - S có kích thước (39,4x0,4)m (ký hiệu là 1); điểm đầu cách mép chuẩn 5,4m, cách mốc 20,3 m, cuối vết tiếp xúc mặt lăn lốp xe phía sau bên trái xe ô tô 20C-253.79, vết cuối cách mép chuẩn 2,65m. Hệ thống dấu vết cầy xước mặt đường theo chiều hướng Bắc Giang – Sơn Động kích thước (19x0,84)m (ký hiệu 2); cuối vết tiếp xúc ống xả xe mô tô biển số 98AB-069.15; điểm đầu cách mép chuẩn 3,6m, cách mép 15,5m; điểm cuối cách mép chuẩn 2,25m. 01 dấu vết mài trượt mặt đường màu đen theo hướng Bắc Giang - S có kích thước (19x0,4)m (ký hiệu là 3); điểm đầu cách mép chuẩn 4,1m, cách mốc 15,8 m; cuối vết tiếp xúc mặt lăn lốp xe phía sau bên phải xe ô tô 20C-253.79, cách mép chuẩn 2,25m. Vị trí xe ô tô BKS 34C-3639 (ký hiệu 4) trong trạng thái đỗ xoay ngang mặt đường; đầu xe hướng mép đường chuẩn, phần đầu biến dạng; tâm đầu trục sau bên trái xe cách mép chuẩn 3,3m, cách mốc 25,15m; tâm đầu trục trước bên trái xe cách mép chuẩn 1,1m, cách mốc 25,55m; tâm đầu trục sau bên phải cách mép chuẩn 4,2 m, tâm đầu trục trước bên phải xe cách mép chuẩn 2m. Vị trí xe ô tô BKS 20C-253.79 (ký hiệu 5) trong trạng thái đỗ trên lề đường phải đầu xe hướng Sơn Động; tâm đầu trục sau bên phải xe cách mép chuẩn 0,75m, cách mốc 24,6m; tâm đầu trục trước bên phải cách mép chuẩn 2,1 m; tâm đầu trục sau bên trái cách mép chuẩn 2,55m; tâm đầu trục trước bên trái cách mép chuẩn 4m; tâm đầu trục trước bên phải cách tâm đầu trục trước bên trái xe ô tô tải 34C-363.69 là 4,7m. Hệ thống mảnh vỡ kim loại, nhựa vỡ, thủy tinh vỡ (ký hiệu 6) kích thước (11,8x10,8)m; vị trí tâm mảnh vỡ nằm trên mép chuẩn, cách mốc 26,2m. Vị trí xe mô tô biển số 98AE-069.15 (ký hiệu là 7) trong trạng thái đổ nghiêng phải nằm dưới gầm phần đầu xe ô tô 20C-253.79, một phần bánh xe phía sau nằm dưới lốp phía trước bên phải của ô tô; tâm trục sau xe cách mép chuẩn 2,45m, cách tâm đầu trục trước bên phải xe ô tô tải 20C-253.79 là 0,4m; tâm trục trước xe cách mép chuẩn 3,7m; tâm trục sau xe cách tâm đầu trục sau bên phải xe ô tô tải là 4,15m. Tại vị trí ký hiệu số (8) là điện thoại di động màu xanh, ở dưới gầm xe ô tô biển kiểm soát 20C-253.79, một phần điện thoại bị lốp xe phía trước bên trái xe ô tô đè lên, vị trí chiếc điện thoại cách mép chuẩn 3,8m, cách tâm đầu trục sau bên phải xe ô tô biển kiểm soát 20C-253.79 là 4,4m. Tại vị trí ký hiệu số (9) là điện thoại di động màu trắng bị vỡ cách mép chuẩn 2m, cách tâm đầu trục sau bên phải xe ô tô biển kiểm soát 20C-253.79 là 4,1m. Tại vị trí đường không ưu tiên hướng từ thôn P đi Quốc lộ C có biển báo giao thông “giao nhau với đường không ưu tiên” trên lề đường phải cách mép đường Quốc lộ 31 là 8m. Trên mặt đường khu vực đường không ưu tiên có 05 gờ giảm tốc màu vàng cách mép đường Quốc lộ 31 là 06 m. Quá trình khám nghiệm hiện trường, đã thu giữ 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 20C-253.79; 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 34C-363.69; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 98AE-069.15; và 02 (hai) chiếc điện thoại thu giữ tại vị trí số 8 và 9.
Ngày 11/3/2024, Nguyễn Xuân T giao nộp cho cơ quan điều tra: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Xuân T còn hiệu lực; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 20C-253.79 mang tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1968, trú tại tổ E, phường C, TP ., tỉnh Thái Nguyên (là người bán xe cho Nguyễn Xuân T vào ngày 02/3/2023); 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường còn hiệu lực; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS mang tên Nguyễn Thị N (chưa có hiệu lực tại thời điểm xảy ra va chạm). Cùng ngày, chị Đinh Thị L, sinh năm 1986, trú tại thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương (là mẹ của Nguyễn Duy M1) giao nộp: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 34C-363.69 mang tên Đinh Thị L; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường còn hiệu lực; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS còn hiệu lực. Ngày 13/3/2024, chị Hoàng Thị M, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là mẹ của Hoàng Văn V) giao nộp: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô - xe máy biển kiểm soát: 98AE - 069.15 mang tên Hoàng Thị M; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS còn hiệu lực. Đến ngày 05/6/2024, Nguyễn Duy M1 giao nộp 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Duy M1.
Ngày 11,12/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thu giữ 01 (một) thẻ nhớ được thu giữ tại camera hành trình của xe ô tô BKS: 34C-363.69 và 01 (một) video có thời lượng 39 giây thu tại camera an ninh nhà anh Bùi Văn C, sinh năm 1962, trú tại thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 12/3/2024 đối với xe ô tô biển kiểm soát 20C-253.79 xác định dấu vết trên phương tiện: (1) Vỡ toàn bộ kính chắn gió phía trước và bên phải ghế phụ. (2) Ốp nhựa màu đen dưới chân cần gạt mưa có vết mài trượt sơn, kích thước trên diện (80x20)cm, trên diện mài trượt bám dính sơn màu xanh nhạt. (3) Tấm kim loại ốp đầu xe có gắn lô gô T2 bị chùn cong theo chiều từ trước về sau trên diện (110x20)cm, trên diện chùn cong có nhiều dấu vết mài trượt, bong tróc sơn và bám dính sơn màu xanh nhạt; tại giữa tấm kim loại có 01 vết chùn cong có bám dính sơn màu xanh nhạt, kích thước (3x7)cm hướng từ dưới lên trên. (4) Vỡ toàn bộ cụm đèn pha bên phải. (5) ốp nhựa mặt ca lăng bị vỡ tại phía bên phải (60x3)cm. (6) Ba đờ sốc bị vỡ bật dời, gãy tại góc bên phải. (7) Đèn gầm 2 bên bị vỡ bật dời. (8) T3 kim loại gắn ba đờ sốc trước bị chùn cong theo chiều từ trước về sau, từ phải sang trái. (9) Giàn nóng và quạt gió điều hòa bị chùn cong và vỡ ép vào thân xe. (10) Cột A bên phải và cánh cửa bên phải có diện chùn cong từ trước về sau, từ ngoài vào trong và từ phải sang trái kích thước (125x80). (11) Bậc bước chân lên xuống bên phụ chùn cong theo chiều từ dưới lên trên, từ trước về sau. (12) 02 thanh kim loại ba đờ sốc bên phải bị bật rời chùn cong theo chiều từ trước về sau từ ngoài vào trong, 03 thanh giá treo ba đờ sốc bị chùn cong theo chiều từ trước về sau. (13) gương chiếu hậu bên phải bị vỡ. (14) Gương lồi đầu xe bị vỡ. (15) Đèn sườn thứ 2 bên phải bị vỡ hỏng. (16) 02 cần gạt nước bị gãy hỏng.
Biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 12/3/2024 đối với xe ô tô biển kiểm soát 34C-363.69 xác định dấu vết trên phương tiện: (1) Vỡ toàn bộ kính chắn gió phía trước, kính cửa chắn gió ghế lái và ghế phụ (bên phải bên trái). (2) Chùn cong toàn bộ nóc cabin xe theo chiều từ trước về sau; điểm chùn cong nhất tại vị trí tương ứng bên trên ghế lái kính thước (30x5)cm cách đất 195cm; trên diện chùn cong bong tróc sơn. (3) Cột A bên trái bị chùn cong theo chiều từ trước về sau trên diện (10x15)cm. (4) Cột A bên phải bị chùn cong theo chiều từ trước về sau từ trong ra ngoài trên diện (30x10)cm. (5) Cánh cửa bên phải bị chùn cong theo chiều từ trước về sau từ trong ra ngoài trên diện (420x100)cm; vỡ, bật rời toàn bộ nhựa phía bên trong cánh cửa. (6) Gãy bật rời gương chiếu hậu bên trái. (7) Bản lề cánh cửa bên trái bị bật rời. (8) Cánh cửa bên trái bị chùn cong theo chiều từ trước về sau, từ trong ra ngoài trên diện (120x100)cm; trên diện chùn cong có vết màu trượt sơn theo chiều từ trước về sau kích thước (30x60)cm, vỡ bật rời nhựa bên trong cánh cửa. (9) Phần nhựa tap lô bên trong xe bị bật rời khỏi vị trí ban đầu. (10) Màn hình giải trí xe bị vỡ. (11) Hộp chuyển số bị bật rời khỏi vị trí ban đầu, vỡ hỏng. (12) Toàn bộ hệ thống trong cabin xe bị dồn ép từ trước về sau (không hoạt động). (13) 2 cần gạt mưa bị gãy hỏng. (14) Toàn bộ tấm kim loại phía trước đầu xe bị chùn cong theo chiều từ trước về sau và bong tróc sơn trên diện (120x70)cm. (15) Ba đờ sốc trước bị vỡ bật rời, trên diện vỡ có nhiều vết mài trượt sơn. (16) Khung sắt bắt vít ba đờ sốc bị chùn cong theo chiều từ trước về sau. (17) Cụm đèn pha bên phải bên trái bị vỡ, đèn gầm bên phải bên trái bị vỡ. (18) 02 chiếc còi bị vỡ hỏng. (19) Trục lái bị bật rời. (20) Ống lạnh điều hòa bị gãy hỏng. (21) chân cabin bị chùn cong theo chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên. (22) Sắt xi đầu xe bị thủng lỗ kích thước (9x2)cm. (23) Giàn điều hòa quạt điều hòa bị dồn từ trước về sau vào thân xe. (24) Mặt ca lăng nhựa bị vỡ hỏng. (25) két nước và phần máy của xe bị dồn từ trước về sau ép vào thân xe. (26) Biển số xe bị dập cong, bật rời.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 12/3/2024 đối với xe mô tô, biển kiểm soát 98AE-069.15 xác định dấu vết trên phương tiện như sau: (1) Toàn bộ nhựa đầu xe bị vỡ và bật rời; (2) Bảng đồng hồ điều khiển, cụm đèn pha, xi nhan bên phải, bên trái bị vỡ bật rời; (3) Ghi đông bên phải bị cong theo chiều từ trước về sau từ trên xuống dưới, bị vặn xoắn 180° theo chiều kim đồng hồ; (4) Đầu ốc tay nắm bên phải bị gãy bật rời; (5) Đầu ốc tay nắm bên trái bị cong theo chiều từ trên xuống dưới, có vết mài trượt kim loại tại quanh đầu ốc kích thước (3x3)cm; (6) Hệ thống dây diện, đầu xe, dây phanh ga bị đứt, công tơ mét bị bật rời; (7) Trục bánh trước bị vặn xoắn 180° theo chiều K; (8) Cánh yếm bên trái bị vỡ trên diện (30x10)cm có bám dính sơn màu xanh (nghi là sơn xe ô tô); (9) Tại phía trước bên trái mặt nạ xe kích thước (8x8) cm; (10) Ốp chắn bùn phía trước bên phải bám dính sơn màu xanh, kích thước (25x10)cm; (11) Cánh yếm bên phải tiếp giáp với mặt nạ xe có diện mài trượt nhựa, bám dính bùn đất, xi măng, kích thước (50x10)cm, chiều từ trên xuống dưới: (12) Ốp sườn đuôi bên phải có vết vỡ và mài trượt sơn trên diện (45x20)cm, trên diện mài trượt bám dính bùn đất và xi măng; (13) Ốp nhựa trung tâm bên trái bị vỡ bật rời; (14) Cốp xe bị vỡ, bật rời bình ắc quy; (15) Giá đỡ chân bên phải người lái bị chùn cong ép vào thân xe, đầu giá đỡ chân có vết mài trượt kim loại, hướng từ trước về sau từ trên xuống dưới, kích thước (1,5x1,5)cm, cao su giá để chân bị mài mòn kích thước (3,5x3,5)cm, trên diện mài trượt bám dính xi măng bùn đất; (16) Đầu chân phanh có vết mài trượt kim loại, kích thước (3x0,5)cm, hướng từ trên xuống dưới, từ trước về sau; (17) Cần khởi động có vết mài trượt kim loại, kích thước (14x0,5)cm, chiều từ trước về sau, cao su của cần khởi động bị mài trượt kích thước (7x2)cm; (18) Giá để chân người ngồi sau bên phải có vết mài trượt cao su và kim loại kích thước (10x4)cm bám dính bùn đất, vết mài trượt hướng từ trên xuống, từ trước về sau; (19) Mặt ngoài giảm sóc bên phải bánh sau có vết mài trượt kim loại từ trên xuống, từ trước về sau bám dính bùn đất, kích thước (27x2)cm; (20) Ốp bô xe có vết mài trượt kim loại hướng từ trên xuống, từ trước về sau, kích thước (36x6)cm, trục bắt vít bô xe bị gãy, vết gãy có vết mài trượt kim loại, kích thước (5x3)cm; (21) Bên phải tay xách có vết mài trượt cao su hướng từ trên xuống, từ trước về sau kích thước (20x5)cm; (22) Cụm đèn hậu, xi nhan phía sau bên phải, bên trái và chắn bùn sau bị vỡ bật dời; (23) Ốp sườn đuôi bên trái bị vỡ, bật dời trên diện vỡ bám dính sơn xanh, kích thước (55x25)cm; (24) Giá kim loại để chân bên trái người ngồi sau bị gãy, phần còn gắn trên xe bám dính sơn màu xanh; (25) Ốp kim loại hộp xích bị biến dạng từ ngoài vào trong, mặt ngoài bám dính sơn màu xanh; (26) Cao su giá để chân bên trái người lái bị bật rời; (27) Chân chống giữa bị cong vênh biến dạng, có bám dính sơn màu xanh; (28) Càng xe bên trái của trục bánh sau bị cong vênh theo chiều từ trái sang phải trên diện chùn cong có bám dính chất sơn màu xanh; (29) Trục giảm sóc sau bên trái bị chùn cong từ trái sang phải, tại đầu ốc bắt vít giảm sóc với trục xe có bám dính chất sơn màu xanh; (30) Bên trong giảm sóc có bám dính 01 miếng nhựa nghi là nhựa ba đờ sóc (16x25)cm; (31) vành bánh sau bị chùn cong biến dạng có vết mài trượt kim loại và phần má lốp có vết mài trượt tương ứng, kích thước (25x8)cm, bị gãy cong 15 nan hoa; (32) Yên xe bị vỡ bật rời, mặt dưới yên xe có vết mài trượt nhựa, kích thước (30x20)cm; (33) Vành bánh trước bị cong, cách chân van 40cm trên diện cong (12x1) cm; (34) Tại mặt ngoài trục giảm sóc bên trái có vết mài trượt sơn, có bám dính chất sơn màu xanh (3x3)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới tại bánh trước; (35) Vết chùn cong tại bình xăng và khung sườn bên trái kích thước (1x8)cm.
* Kết quả khám nghiệm tử thi:
Ngày 03/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp với Phòng K1 Công an tỉnh B tiến hành khám nghiệm tử thi Hoàng Văn V. Kết quả xác định tử thi có dấu vết bên ngoài như sau: Tư thế tử thi: Chiều dài 1,62m, tử thi đang trong giai đoạn lạnh và cứng. Đặc điểm trang phục và vật dụng mang theo: Mặc ngoài áo sơ mi dài tay và quân bò dài màu xanh; bên trong mặc cộc tay màu đỏ, quần đùi, quần lót màu đen. Tứ chi đeo tất màu xám. Quần áo được người nhà thay mới. Vùng đầu, mặt, cổ: Tóc đen, cắt ngắn; hai mắt khép không kín, đồng tử hai bên giãn to; hai lỗ tại khô, hai lỗi mũi và khoang miệng có ít dịch; vùng cổ trước có vết mở thông khí quản được khâu bằng 01 mũi chỉ còn chảy dịch và sưng nề; Môi dưới bên trải có diện sây sát da đã đóng vảy, kích thước (1,5x01)cm; vùng đỉnh - thái dương phải có diện sây sát da đã đóng vảy, kích thước (04x3,5)cm; vùng đỉnh trái có diện sưng nề, kích thước (11x08)cm; vùng đỉnh – chẩm có vết loét da, kích thước (08x04)cm. Bụng: Vùng bụng trên đường trắng giữa có vết mố dài 33cm, được khâu bằng 16 mũi chỉ, liền sẹo tốt; vùng bụng hai bên có 04 vết đặt troca, trong đó có 03 vết vẫn còn chảy dịch, 01 vết được khâu bằng 02 mũi chỉ, liền sẹo tốt. Hai tay, hai chân: Mặt mu ngón 1,2 bàn tay phải có diện sây sát da đã đóng vảy, kích thước (1,5x0,5)cm; mặt mu bàn ngón tay trái có diện sây sát da đã đóng vảy, kích thước (11x05)cm; mặt trước cẳng chân, mu bàn ngón chân phải có diện sây sát da đã đóng vảy, kích thước (43x15)cm; mặt trước đùi, gối trái có diện sây sát da, kích thước (30x08)cm; mặt trước 1/3 dưới cẳng chân, cổ chân, mu bàn ngón chân trái có diện sưng nề, bẩm tím, sây sát da đã đóng vảy, kích thước (30x18)cm. Khám trong xác định được như sau: Chọc hút khoang lồng ngực, khoang ổ bụng bằng bơm kim tiêm không có máu. Kiểm tra vết mở khí quản thấy: Sưng nề tổ chức dưới da, qua đó có nhiều dịch nhày chảy ra.
* Kết quả giám định:
Ngày 21/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 460/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường, trên phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông đường bộ; vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên mặt đường; tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai nạn liên quan đến vụ việc trên. Tại kết luận giám định số: 877/KL-KTHS ngày 21/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài ốp kim loại đầu xe ô tô biển kiểm soát 20C - 253.79 (ảnh 10 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu xanh, hướng từ trái sang phải ở đầu ngoài tay nắm bên trái của xe gắn máy biển kiểm soát 98AE - 069.15 (ảnh 8, 9 bản ảnh khám phương tiện). Đây là vị trí va chạm đầu tiên trên hai phương tiện.
- - Dấu vết vỡ, trượt xước sơn nhựa, hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái ở bên trái ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 20C-253.79 (ảnh 16 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát sơn, kim loại, bám dính chất màu xanh ở mặt ngoài giảm sóc trước bên trái và ốp nhựa bên trái chắn bùn bánh trước của xe biển kiểm soát 98AE-069.15 (các dấu vết có chiều hướng từ trái sang phải, từ trước ra sau, ảnh số 17, 18 bản ảnh khám phương tiện).
- - Dấu vết vỡ, trượt xước sơn nhựa ở bên phải ba đờ sốc trước và dấu vết lõm, chùn cong kim loại ở thanh kim loại bên phải đầu xe ô tô biển kiểm soát 20C - 253.79 (các dấu vết có chiều hướng từ trước ra sau, ảnh 12, 16 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ nhựa, trượt xước kim loại, bám dính chất màu xanh ở bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98AE - 069.15 gồm: ốp sườn, chân chống chính, để chân sau, hộp xích, giảm xóc sau (khi xe mô tô trong tư thế đổ nghiêng phải, ảnh 35, 36, 37, 38 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
- Dấu vết vỡ khuyết nhựa, chùn cong, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài ba đờ sốc trước và cụm chi tiết kim loại phía trước đầu xe ô tô biển kiểm soát 34C - 363.69 (ảnh 24 đến ảnh 31 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ khuyết nhựa, chùn cong, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở bên phải của xe ô tô biên kiêm soát 20C-253.79 gồm: cụm đèn trước, ốp kim loại đầu xe, thành thùng và thanh kim loại bảo vệ bình dầu (ảnh 18, 19, 20, 21, 22 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 20C-253.79 và xe gắn máy biển kiểm soát 98AE-069.15 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 2, thuộc chiều phương tiện chuyển động bên phải theo hướng S đi thành phố B.
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 20C-253.79 và xe ô tô biển kiểm soát 34C-363.69 trên mặt đường, tại đoạn cuối dấu vết mài trượt màu đen ký hiệu số 1 và số 3, thuộc chiều phương tiện chuyển động bên phải theo hướng S đi thành phố B.
- Căn cứ vào chiều hướng dấu vết va chạm trên các phương tiện và dấu vết trên hiện trường xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn:
- - Xe ô tô biển kiểm soát 20C-253.79 chuyển động theo hướng thành phố B đi S va chạm với xe gắn máy biển kiêm soát 98AE-069.15 ở phía trước, đầu xe chếch hướng từ phải sang trái theo hướng chuyển động của xe ô tô;
- - Xe ô tô biển kiểm soát 34C-363.69 chuyển động hướng S đi thành phố B.
6. Không xác định được tốc độ của ba phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.”.
Ngày 03/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 526/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định nguyên nhân chết của Hoàng Văn V liên quan đến vụ việc trên. Kết luận giám định số 1013/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“Nguyên nhân chết của Hoàng Văn V do đa chấn thương không hồi phục: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực - bụng kín, vỡ xương chậu trái.
- Cơ chế hình thành thương tích:
- + Tổn thương sây sát da đã đóng vảy được hình thành do tiếp xúc với vật tày bề mặt không nhẵn tạo nên.
- + Tổn thương tụ máu dưới màng cứng, dập nhu mô phổi, tổn thương lách và thận trái, chấn thương gan độ II, chấn thương đuôi tụy, vỡ xương chậu trái do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh, trực tiếp tạo nên.”.
Ngày 24/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 665/QĐ-CSĐT, T4 Bộ C1 giám định tốc độ của phương tiện xe ô tô BKS 34C-363.69 qua hình ảnh tại camera hành trình của xe ô tô trên. Tại Bản kết luận giám định số 3138/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của V1 Bộ C1, kết luận:
“- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video gửi giám định.
- Vận tốc của xe ô tô gắn camera hành trình (lưu trữ video gửi giám định) trước khi xảy ra va chạm trong khoảng 57,1 km/h đến 57,9 km/h. " (BL: 61-63)
Ngày 23/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành mở thẻ nhớ và video cho Nguyễn Xuân T, Nguyễn Duy M1 và chị Hoàng Thị M xem. Kết quả như sau:
- Đoạn đường xảy ra va chạm giao thông thuộc đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm “Giới hạn tốc độ 60km/h và cấm vượt” và “giao nhau với đường không ưu tiên”. Đoạn đường xảy ra va chạm không thuộc khu đông dân cư. (Thể hiện tại video camera hành trình xe ô tô BKS 34C-363.69).
- Thời gian xảy ra va chạm vào lúc 11 giờ 52 phút, ngày 11/3/2024, tại Km28+650, đường Q, thuộc thôn C, xã P, huyện L. Nguyễn Xuân T, sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe ô tô tải màu sơn Xanh, biển kiểm soát 20C-253.79 đi theo hướng TP . đi huyện S va chạm với xe máy màu sơn Xanh – Bạc, biển kiểm soát 98AE-069.15 do cháu Hoàng Văn V, sinh năm 2008, trú tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển có đội mũ bảo hiểm màu đen đang sang đường (từ phải sang trái theo hướng TP . đi S).
- Vị trí va chạm tại phần đường bên trái (từ phải sang trái theo hướng TP . đi S). Vị trí va chạm giữa hai phương tiện tại đầu xe ô tô tải 20C - 253.79 và toàn bộ phần bên trái xe máy, phía bên trái ngực, bụng, đầu, chân, tay cháu V.
- Sau khi va chạm xe máy cháu V điều khiển và cháu V bị văng về trước và bị đập đầu xuống đất. Sau khi xe của T va chạm với xe máy cháu V điều khiển và kéo rê xe máy đi về phía trước thì tiếp tục va chạm với xe ô tô tải do anh Nguyễn Duy M1 điều khiển theo hướng ngược chiều khiến xe của M1 bị văng về phía bên phải xe ô tô của T. Vị trí va chạm giữa hai xe ô tô tại phần đầu xe ô tô 34C-363.69 anh M1 điều khiển và phía bên phải đầu xe ô tô 20C-253.79 do T điều khiển (Thể hiện tại video an ninh camera nhà anh Bùi Văn C).
- Trên camera hành trình của xe ô tô 34C-363.69 có âm thanh, hiển thị ngày, giờ, tháng, năm (tuy nhiên không đúng với giờ thực tế), ngoài ra không hiển thị thông tin nào khác. Không hiển thị thông tin tốc độ của phương tiện trước khi xảy ra va chạm.
- Trên camera an ninh nhà anh Bùi Văn C không có âm thanh, hiển thị ngày, giờ, tháng năm đúng với thời gian thực tế.
* Về thương tích của Nguyễn Duy M1: Tại Giấy chứng nhận thương tích và bản sao bệnh án ngoại khoa Trung tâm y tế huyện L của M1 ngày 11/3/2024 xác định: Khi vào viện sưng nề vùng cẳng chân, đau vùng khung chậu; Gai chậu trước bên trái có vết sây sát da (2x5)cm, sây sát da gối phải; cẳng chân phải 1/3 giữa có vết sây sát da rỉ máu, đã cầm. Lúc ra viện, bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, da niêm mạc hồng, sưng đau vùng chấn thương. Anh M1 không đề nghị giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường gì.
* Về thiệt hại của các phương tiện:
Ngày 03/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 1164, 1165, 1166/CSĐT gửi đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự định giá thiệt hại đối với các phương tiện và tài sản có liên quan đến vụ việc trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 45, 46, 47/KL-HĐĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L, kết luận:
- Xe ô tô nhãn hiệu FOTON, loại THACO OLLIN700C, màu sơn Xanh, biển kiểm soát 20C-253.79 sản xuất tại Việt Nam vào năm 2016 (Xe ô tô Nguyễn Xuân T điều khiển). Sau khi va chạm giao thông bị hư hỏng và thiệt hại giá trị tại thời điểm ngày 11/3/2024 là 16.380.000 đồng (Mười sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).
- Xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, loại THACO FRONTIER K200, màu sơn Xanh, biển kiểm soát 34C-363.69 sản xuất tại Việt Nam vào năm 2019 (Xe ô tô Nguyễn Duy M1 điều khiển). Sau khi va chạm giao thông bị hư hỏng và thiệt hại giá trị tại thời điểm ngày 11/3/2024 là 74.950.000 đồng (Bảy mươi tư triệu chín trăm năm mươi tư nghìn đồng).
- Xe máy nhãn hiệu J-Pan, loại RS J-Pan, màu sơn Xanh – Bạc, dung tích 49,6cm³, biển kiểm soát: 98AE - 069.15; 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm thời trang, màu đen; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A03S, dung lượng 64gb, màu Xanh; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A05 dung lượng 128gb, màu Trắng (Xe máy do Hoàng Văn V điều khiển và tài sản kèm theo). Sau khi va chạm giao thông bị hư hỏng và thiệt hại giá trị tại thời điểm ngày 11/3/2024 là 10.630.000 đồng (Mười triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Xuân T đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa Đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.
Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKS-LNg ngày 03 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội các bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định cùng tang vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Khoảng 11 giờ 52 phút ngày 11/3/2024, Nguyễn Xuân T, sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 20C-253.79 chở bao bì (túi nhựa) đi từ huyện L về xưởng may của nhà T. Khi đi đến đoạn km28+650 Quốc lộ C, thuộc thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, T đã điều khiển xe ô tô không đi đúng làn đường, phần đường quy định, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn tại đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm nên dẫn đến va chạm với xe mô tô, biển kiểm soát 98AE-069.15 do cháu Hoàng Văn V điều khiển sang đường từ phải sang trái theo chiều đi của T. Sau đó, xe ô tô của T tiếp tục va chạm với xe ô tô tải, biển kiểm soát 34C-363.69 do anh Nguyễn Duy M1 điều khiển theo hướng ngược chiều, vị trí va chạm giữa các phương tiện trên mặt đường tại phần đường bên trái chiều đi của T. Hậu quả: Cháu V bị thương đưa đi cấp cứu và tử vong ngày 03/4/2024, anh M1 bị xây xát nhẹ.
[4] Hành vi nêu trên của Nguyễn Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo, của những người tham gia tố tụng khác và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chấp hành các quy định về an toàn giao thông, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, gây hậu quả làm cho cháu Hoàng Văn V tử vong. Do vậy cần áp dụng hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả số tiền 230.000.000 đồng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Người đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có thành tích xuất sắc trong phòng chống covid, có công cứu người đuối nước, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được xem xét theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[8] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vụ án xảy ra do lỗi hỗn hợp, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có đủ điều kiện cải tạo để bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
[9] Đối với Nguyễn Duy M1 là người điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 34C-363.69 đi đúng tốc độ quy định, đi đúng phần đường, làn đường của mình thì bị xe ô tô biển kiểm soát 20C-253.79 do Nguyễn Xuân T điều khiển đâm vào bất ngờ. Việc va chạm giữa hai phương tiện đối với Nguyễn Duy M1 được coi là sự kiện bất ngờ. Tuy nhiên, Nguyễn Duy M1 điều khiển xe không có giấy phép lái xe theo quy định. Hành vi của Nguyễn Duy M1 đã vi phạm khoản 9, Điều 8 Luật giao thông đường bộ và khoản 4, Điều 81, Nghị định 100/2019/NĐ-CP. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L sẽ gửi hồ sơ và tài liệu liên quan đến Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện L để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, đồng thời, tiếp tục tạm giữ Giấy phép lái xe hạnh B2 mang tên Nguyễn Duy M1 để phục vụ việc xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[10] Đối với chị Hoàng Thị M là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 98AE-069.15. Quá trình điều tra xác định chị M không biết việc V sử dụng chiếc xe trên sau đó xảy ra tai nạn nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với chị M. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[11] Đối với chị Đinh Thị L là chủ sở hữu xe ô tô tải biển kiểm soát 34C-363.69. Kết quả điều tra xác định: Chị L không biết trước đó M1 bị xử phạt vi phạm hành chính và bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ ngày 01/02/2024 đến hết ngày 01/5/2024. Do vậy, Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang không xem xét xử lý đối với chị Đinh Thị L là có căn cứ. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[12] Về vật chứng vụ án: Ngày 14/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 911/QĐ-ĐTTH xử lý như sau: Trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Xuân T xe ô tô, biển kiểm soát 20C-253.79 cùng giấy tờ có liên quan: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Nguyễn Thị N, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc. Trả lại cho chủ sở hữu là chị Đinh Thị L xe ô tô, biển kiểm soát 34C-363.69 cùng giấy tờ có liên quan: Giấy chứng nhận đăng ký mang tên Đinh Thị L, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS. Trả lại cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị M xe mô tô, biển kiểm soát 98AE-069.15 cùng giấy tờ, đồ vật có liên quan: Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô - xe máy mang tên Hoàng Thị M, Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô - xe máy; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A03S, màu X bị vỡ hỏng; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A05 màu Trắng bị vỡ là phù hợp. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Xuân T, sinh năm 1997, nơi cư trú: Xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là giấy tờ cá nhân của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.
[13] Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Xuân T đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 230.000.000 đồng, chị Hoàng Thị M là đại diện cho bị hại V đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với T. Đối với thiệt hại tài sản đối với xe ô tô biển kiểm soát 34C-363.69, Nguyễn Xuân T đã thỏa thuận bồi thường với chị Đinh Thị L là chủ xe, chị L không có đề nghị gì. Đối với Nguyễn Duy M1 bị thương nhẹ, không có yêu cầu đề nghị bồi thường về dân sự. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[14] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định cuả pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51và Điều 65 Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Xuân T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Xuân T.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Thể |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T vi phạm quy định TGGT đường bộ
