Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 100/2024/HS-ST

Ngày: 07 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang
  • Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thị Hoa
  • Ông Trần Mai Khanh
  • Ông Nguyễn Hồ Cảnh
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Nam – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hạnh Tịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lộc Văn H, tên gọi khác: không, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1980 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; đăng ký tạm trú tại: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Cao T, sinh năm 1954 và bà Dương Thị H1, sinh năm 1956; có 02 (hai) vợ, vợ thứ nhất Dương Thị L, sinh năm 1978 (đã ly hôn); con có 01 (một) con, sinh năm 2002; vợ thứ hai Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975 (chưa có con); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/5/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị S – Văn phòng luật sư Thành Đ và cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975, trú tại: bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lộc Văn H đăng ký thường trú tại thôn Bản Quất, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, đăng ký tạm trú tại thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Lộc Văn H kết hôn với chị Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1975, trú tại bản Lộc Tiến, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An), hiện hai người đang sống ly thân. H không có nơi ở ổn định, thường xuyên đi lại giữa tỉnh Quảng Nam và huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Sáng ngày 17/12/2023, Lộc Văn H đến nhà chị Nguyễn Thị H2 mượn chị H2 chiếc xe máy Yamaha Nouvo, biển số 37H1-075.77 (H không nói rõ mục đích mượn). Sau đó, H điều khiển xe máy đến khu vực rừng thuộc bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Lộc Văn H gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ lai lịch, địa chỉ) và hỏi mua của người này 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) ma túy (Heroine) và 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) ma túy hồng phiến. Lộc Văn H đưa cho người đàn ông này 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) và nhận lại 01 (một) một túi ni lông màu đen bên trong có 04 (bốn) gói ma túy hồng phiến và 03 (ba) gói ni lông bên trong có chứa ma túy Heroine. Nhận được ma túy, Lộc Văn H điều khiển xe quay về đến khu vực xóm T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện Q bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma tuý và xe mô tô của bị cáo.

Tại bản Kết luận giám định số 37/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 23/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • 04 (bốn) mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu từ M1 đến M4) thu giữ của Lộc Văn H gửi giám định đều là ma túy: loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Lộc Văn H có tổng khối lượng là 78,06g (bảy mươi tám phẩy không sáu gam).
  • 03 (ba) mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M5, M6, M7) thu giữ của Lộc Văn H gửi giám định đều là ma túy: loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của Lộc Văn H có tổng khối lượng là 90,75g (chín mươi phẩy bảy mươi lăm gam).

* Về thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

  • - 78,06 gam ma túy Methamphetamine đã lấy 04 gam gửi giám định, còn lại 74,06 gam; 90,75 gam ma túy (heroin) đã lấy 06 gam gửi giám định, còn lại 84,75 gam và vỏ bao niêm phong cũ.
  • - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng, biển số 37H1-075.77; số khung DB10CY074583, số máy 1DB1074595

Số vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

Quá trình điều tra Lộc Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội bị bắt quả tang ngày 17 tháng 12 năm 2023, phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 113/CT-VKSNA-P1 ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Lộc Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lộc Văn H từ 16 đến 17 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho Lộc Văn H.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ của bị cáo; Xe mô tô là của chị Nguyễn Thị H2 không liên quan đến tội phạm, nên đề nghị trả lại cho chị Nguyễn Thị H2.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Phần tranh luận:

Người bào chữa cho bị cáo Lộc Văn H không tranh luận về tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo chưa thu lợi bất chính, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo. Do đó, xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Người liên quan, Chị Nguyễn Thị H2 đề nghị: Bị cáo khi mượn xe máy không nói đi mua ma tuý, sau này bị bắt mới biết là bị cáo đi mua ma tuý, nên được xin lại xe máy để đi lại.

Bị cáo Lộc Văn H đồng ý với phần bào chữa của người bào chữa về tội danh, hình phạt và không tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Sau khi bị bắt, bị tạm giam, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Bản kết luận các chất ma tuý thu giữ của bị cáo. Như vậy có đủ căn cứ xác định:

Sáng ngày 17/12/2023, Lộc Văn H đến nhà chị Nguyễn Thị H2 mượn chị H2 chiếc xe máy Yamaha Nouvo, biển số 37H1-075.77 (H không nói rõ mục đích mượn). Sau đó, H điều khiển xe máy đến khu vực rừng thuộc bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Lộc Văn H gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ lai lịch, địa chỉ) và hỏi mua của người này 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) ma túy (Heroine) và 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) ma túy hồng phiến. Lộc Văn H đưa cho người đàn ông này 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) và nhận lại 01 (một) một túi ni lông màu đen bên trong có 04 (bốn) gói ma túy Methamphetamine có khối lượng 78,06 gam và 03 (ba) gói ni lông bên trong có chứa ma túy Heroine có khối lượng 90,75 gam. Sau khi mua được ma túy, Lộc Văn H cất giấu vào người và điều khiển xe quay về đến khu vực xóm T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện Q bắt quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan như đã nêu.

Với hành vi mua hai chất ma tuý H3 và Methamphetamine với tổng khối lượng 161,81 gam với mục đích để về sử dụng, nên bị cáo Lộc Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị bắt quả tang thì bị cáo Lộc Văn H đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đây là tính tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Xét hành vi, tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước Việt Nam đối với chất ma túy, vì ma túy là nguốc gốc sâu xa làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện của mình nên vẫn thực hiện. Năm 2009, bị cáo từng bị Tòa án xử phạt về tội đánh bạc nay bị cáo tiếp tục phạm tội điều đó chứng tỏ bị cáo chưa thật sự có ý thức tuân thủ pháp luật. Vì vậy cần có mức án nghiêm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong thời gian đủ dài nhằm trừng trị, giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích, đồng thời răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung trong xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lộc Văn H có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản, không có việc làm ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về các quyết định và hành vi tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và luật sư không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[6] Về vật chứng vụ án: Ma túy là chất gây nghiện, Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng dưới bất kỳ mọi hình thức. Vì vậy cần tịch thu tiêu hủy 74,06 gam ma túy Methamphetamine và 84,75 gam ma túy (heroin) cùng bao niêm phong cũ.

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng, biển số 37H1-075.77; số khung DB10CY074583, số máy 1DB1074595. Quá trình điều tra xác minh chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên là chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975, trú tại: bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Đây là tài sản của chị Nguyễn Thị H2 có trước khi kết hôn với bị cáo Lộc Văn H, chị H2 với bị cáo hiện đã ly thân, việc bị cáo mượn xe chị H2 để thực hiện hành vi phạm tội chị H2 không được biết. Vì vậy, cần phải trả lại chiếc xe nêu trên cho chị Nguyễn Thị H2 là đúng quy định.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo Lộc Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm h khoản 4 Điều 249, điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lộc Văn H 17 (mười bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/12/2023.
  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại gồm 74,06 gam ma túy Methamphetamine và 84,75 gam ma túy heroin cùng bao niêm phong cũ.
  3. Trả lại cho chị Nguyễn Thị H2 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng, biển số 37H1-075.77; số khung DB10CY074583, số máy 1DB1074595.
  4. Đặc điểm vật chứng được ghi rõ tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An ngày 13 tháng 5 năm 2024
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lộc Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁNTHẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hải MinhPhạm Hồng Trang

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Trần Mai KhanhBùi Thị HoaNguyễn Hồ Cảnh

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại HN;
  • - TAND cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - UBND h.Chợ Mới, Bắc Kạn,
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 100/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MUA BÁN MA TÚY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger