|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2024/DS- PT
Ngày: 07/5/2024
“Tranh chấp lối đi chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang
Ông Nguyễn Việt Hùng
Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Đình Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Lương Thất Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 07/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 335/2024/TLPT- DS ngày 13 tháng 12 năm 2024về việc “Tranh chấp lối đi chung”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS-ST ngày 06/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 71B/2024/QĐ-PT ngày 15/02/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 89/2024/TB-TA ngày 13/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 124/2024/QĐ- PT ngày 10/4/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị H, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Từ Văn Q, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Từ Văn Q: Ông Giáp Văn Đ, Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số F, phố N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- + Ông Từ Văn M, sinh năm 1942; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- + Ông Từ Văn V, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Bà Từ Thị L, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- + Chị Phùng Thị H2, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- + Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang do ông Hoàng Văn T, chức vụ: Chủ tịch UBND huyện Y đại diện theo pháp luật; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền của UBND huyện Y: Bà Phòng Thị N- Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện Y. Theo văn bản ủy quyền số 758/UBND-NC ngày 12/4/2023 của UBND huyện Y (vắng mặt).
- + Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y do ông Trần Văn H3, chức vụ: Chủ tịch UBND xã T đại diện theo pháp luật; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B.
Người đại diện theo uỷ quyền của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B: Bà Đỗ Thị V1, chức vụ: Phó giám đốc Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Theo văn bản ủy quyền số 4990/STNMT-VPĐK ngày 15/9/2023 của Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn ông Từ Văn Q
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Phùng Thị H trình bày:
Đối với thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông ngoại chị để lại cho mẹ chị từ năm 2016. Sau khi ông ngoại cho thì mẹ chị sử dụng thửa đất này để trồng cây cối ăn quả. Sau đó, năm 2021 mẹ con chị có bàn nhau xây nhà trọ để cho công nhân thuê. Mẹ con chị đã xây dựng được 10 phòng trọ, mỗi phòng có diện tích khoảng 20m², hiện nay đang cho công nhân thuê và sử dụng.
Năm 2022, mẹ chị đã làm thủ tục tặng cho một mình chị toàn bộ diện tích đất này theo hợp đồng tặng cho QSD đất số 11, quyển số 01 SCT/HĐ, GD, được UBND xã T chứng thực ngày 17/01/2022.
Vì vậy, toàn bộ thửa đất này là thuộc quyền sử dụng của một mình chị, không liên quan đến mẹ chị, chị gái chị và chồng chị.
Giữa gia đình chị và gia đình ông Q có mối quan hệ họ hàng. Ông Q là em ruột của mẹ chị (bà L), chị gọi ông Từ Văn Q và ông Từ Văn V là cậu ruột, còn ông Từ Văn M là ông ngoại chị.
Sau khi mẹ con chị xây xong dãy nhà trọ (tháng 9/2021) thì giữa ông Q và nhà chị phát sinh mâu thuẫn về lối đi. Ông Q và vợ là bà H1 có xây tường cay trên lối đi chung của nhà chị và nhà ông Q, ông M và ông V có chở đá lấp lối đi chung, không cho gia đình chị đi vào và không cho công nhân đi vào.
Đối với lối đi chung này là do gia đình chị và gia đình ông Q và ông T1 có chung tiền để đổ bê tông làm lối đi chung này.
Trước đây giữa hai gia đình không hề có tranh chấp gì, nhưng từ sau khi gia đình chị xây xong phòng trọ và cho công nhân thuê thì ông ngoại chị và vợ chồng cậu Q có xảy ra mâu thuẫn về tranh chấp lối đi và không cho công nhân nhà chị vào. Nguyên nhân tại sao ông chị và cậu Q xây lại và không cho gia đình chị đi thì chị không được biết.
Lối đi chung này có chiều dài là 28m và chiều rộng khoảng là 2,2m, ông Q đã xây tường lấn vào lối đi chung này khoảng 1,1m.
Vị trí tiếp giáp của lối đi như sau: Một cạnh giáp của nhà chị M1 (hiện nay chị M1 đã bán cho ai chị không biết), một cạnh giáp đất nhà ông Q, đi sâu vào trong là đất nhà chị, bên ngoài giáp đường liên xã. Ngoài lối đi chung này thì gia đình chị không còn lối đi nào khác.
Chị đã làm đơn khởi kiện ông Q đến UBND xã T để hoà giải nhưng hai bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nay, chị đề nghị Toà án giải quyết buộc ông Từ Văn Q tháo rỡ công trình đã xây dựng trên lối đi chung để trả lại lối đi chung cho gia đình chị H.
Ngoài ra, chị Phùng Thị H không còn yêu cầu nào khác.
* Tại biên bản ghi lời khai, bị đơn là ông Từ Văn Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Từ Văn V trình bày:
Ông là cậu ruột của chị Phùng Thị H. Về nguồn gốc thửa đất của bà L hiện nay là của ông Từ Văn M là bố đẻ ông. Về lối đi chung thì từ trước đến nay là không có. Trước đây thuộc diện tích đất của bố ông, sau này bố ông cho ông Q. Chị H không có tài sản, không có lối đi chung mà lại khởi kiện ông Q về lối đi chung là không có căn cứ. Toàn bộ diện tích lối đi chung có một nửa thuộc đất thổ cư của ông Q, còn một phần là thuộc lối đi lên nhà anh T1 ngày xưa. Như vậy chị H khởi kiện là không có căn cứ.
Ngoài lối đi chung này ra thì đất của nhà chị H không còn lối đi chung nào khác. Khi bố ông bán đất cho chị H4 thì chỉ bán đất vườn, còn đất lối đi chị H khởi kiện thuộc đất thổ cư của ông Q. Lối đi đó chỉ phục vụ đi lại cho gia đình ông, không liên quan đến người khác.
Ngoài ra, ông Từ Văn Q và Từ Văn V không có ý kiến nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Từ Văn M trình bày:
Ông là bố đẻ của bà Từ Thị L và là ông ngoại của chị Phùng Thị H. Về nguồn gốc thửa đất số 158, tờ bản đồ 77 có diện tích 503,3m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 779397, số vào sổ cấp giấy chứng nhận là CS 00763 ngày 16/12/2016 mang tên bà Từ Thị L trước đây là của gia đình ông, do ông bà tổ tiên để lại. Khoảng năm 2010 ông bán cho chị H4 thửa đất này với giá 210.000.000. Khoảng năm 2015 chị H4 bán lại thửa đất này cho chị Từ Thị L, giá bao nhiêu thì ông không nắm được. Tại thời điểm ông bán thửa đất cho chị H4, chị H4 bán lại cho chị L thì thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2016, chị L làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị Từ Thị L.
Đối với lối đi chung hiện nay chị Phùng Thị H đang khởi kiện thì trước đây không có lối đi vào, diện tích này đang nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình anh Q. Năm 2021, bà L xây dựng nhà trọ nên nhờ ông cho mượn lối đi vào. Khoảng tháng 3/2022 bà L, anh Q, anh V và anh T1 có thống nhất là góp tiền để đổ bê tông làm lối đi chung cho mấy hộ.
Tổng diện tích lối đi chung đó có khoảng nửa già nằm trong đất của anh Q. Nay chị H khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận lối đi chung thì ông không đồng ý. Ông đề nghị mẹ con chị L và chị H mua đất đến đâu thì làm đến đấy, chứ đất đó không có lối đi chung.
Ngoài lối đi chung này ra thì đất nhà chị L không có lối đi nào khác. Ông không quan tâm nhà chị H đi lối nào vào.
Ngoài ra, ông Từ Văn M không có ý kiến nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Từ Thị L trình bày:
Đối với thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông Thân Văn M2, ông M2 bán cho bố đẻ bà là ông M từ năm 1991. Sau khi mua thửa đất này của ông M2 thì bố bà sử dụng từ năm 1991 đến năm 2010. Năm 2010, bố bà bán cho chị H4. Năm 2015, biết chị H4 có nhu cầu bán thửa đất này nên bà có hỏi chị H4 bán lại cho bà thửa đất này, chị H4 đồng ý bán lại cho bà với giá 200.000.000 đồng.
Năm 2016 bà đã làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 779379, có sổ vào sổ cấp GCN là CS 00763 ngày 16/12/2016 đối với thửa đất số 158, tờ bản đồ số 77 có diện tích là 503,3m², mục đích sử dụng là trồng cây lâu năm mang tên bà Từ Thị L; địa chỉ thửa đất ở thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Thửa đất này là tài sản riêng của bà, không liên quan đến hai con gái, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng mang tên một mình bà. Sau khi mua thửa đất này xong thì bà sử dụng thửa đất này để trồng cây cối ăn quả. Sau đó, năm 2021 mẹ con bà có bàn nhau xây nhà trọ để cho công nhân thuê. Nên bà đã xây dựng được 10 phòng trọ, mỗi phòng có diện tích khoảng 20m², hiện nay đang cho công nhân thuê và sử dụng.
Năm 2022, bà đã làm thủ tục tặng cho một mình cháu H toàn bộ diện tích đất này theo hợp đồng tặng cho QSD đất số 11, quyển số 01 SCT/HĐ, GD, được UBND xã T chứng thực ngày 17/01/2022.
Vì vậy, toàn bộ thửa đất này là thuộc quyền sử dụng của một mình cháu H, không liên quan đến bà và cháu H2.
- Về nội dung tranh chấp quyền sử dụng đất:
Sau khi mẹ con bà xây xong dãy nhà trọ (tháng 8/2021) thì bà, ông Q và ông Từ Văn T2 (em trai ruột bà) còn chung tiền để đổ bê tông làm lối đi chung của 3 gia đình.
Tháng 8/2022, ông Q và vợ là bà H1 có xây tường cay trên lối đi chung của nhà bà và nhà ông Q. Tháng 10/2022, ông M và ông V có chở đá lấp lối đi chung, không cho gia đình bà đi vào và không cho công nhân đi vào. Lý do ông Q, ông M và ông V cản trở gia đình nhà bà đi lối đi chung này là gì thì bà không được biết.
Trước đây giữa hai gia đình không hề có tranh chấp gì, nhưng từ sau khi gia đình bà xây xong phòng trọ và cho công nhân thuê thì bố bà cùng hai con trai là ông Q và ông V có xảy ra mâu thuẫn về tranh chấp lối đi và không cho công nhân nhà bà vào.
Lối đi chung này có chiều dài là 28m và chiều rộng khoảng là 2,2m, ông Q đã xây tường lấn vào lối đi chung này khoảng 1,1m.
Vị trí tiếp giáp của lối đi như sau: Một cạnh giáp của nhà chị M1 (hiện nay chị M1 đã bán cho ai bà không biết), một cạnh giáp đất nhà ông Q, đi sâu vào trong là đất nhà bà, bên ngoài giáp đường liên xã. Ngoài lối đi chung này thì gia đình bà không còn lối đi nào khác.
Chị H đã làm đơn khởi kiện ông Q đến UBND xã T để hoà giải nhưng hai bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nay, bà đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cháu H và giải quyết buộc ông Từ Văn Q tháo rỡ công trình đã xây dựng trên lối đi chung để trả lại lối đi chung cho cháu H.
Bà đề nghị Toà án nhân dân huyện Yên Dũng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà bà đã giao nộp, căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Bản thân bà không có quyền lợi gì đối với thửa đất này nên bà không có bất cứ yêu cầu gì. Toàn bộ thửa đất này là thuộc quyền sở hữu của một mình cháu Phùng Thị H.
Ngoài ra, bà Từ Thị L không có ý kiến nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phùng Thị H2 trình bày:
Đối với thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông ngoại chị từ trước, sau đó ông ngoại chị có bán cho một người tên là H4. Năm 2015, mẹ chị có mua lại của chị H4 và năm 2016 mẹ chị đã làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mẹ chị đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 779379, có sổ vào sổ cấp GCN là CS 00763 ngày 16/12/2016 đối với thửa đất số 158, tờ bản đồ số 77 có diện tích là 503,3m², mục đích sử dụng là trồng cây lâu năm mang tên bà Từ Thị L; địa chỉ thửa đất ở thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Thửa đất này là tài sản riêng của mẹ chị, không liên quan đến chị em chị, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng mang tên một mình mẹ chị. Sau khi mua thửa đất này xong thì mẹ chị sử dụng thửa đất này để trồng cây cối ăn quả. Sau đó, năm 2021 mẹ con chị có bàn nhau xây nhà trọ để cho công nhân thuê. Mẹ con chị đã xây dựng được 10 phòng trọ, mỗi phòng có diện tích khoảng 20m², hiện nay đang cho công nhân thuê và sử dụng.
Năm 2022, mẹ chị đã làm thủ tục tặng cho một mình em gái chị là chị H toàn bộ diện tích đất này theo hợp đồng tặng cho QSD đất số 11, quyển số 01 SCT/HĐ, GD, được UBND xã T chứng thực ngày 17/01/2022.
Vì vậy, toàn bộ thửa đất này là thuộc quyền sử dụng của một mình em gái chị, không liên quan đến mẹ chị và chị.
- Về nội dung tranh chấp quyền sử dụng đất:
Giữa gia đình chị và gia đình ông Q có mối quan hệ họ hàng. Ông Q là em ruột của mẹ chị (bà L), chị gọi ông Từ Văn Q và ông Từ Văn V là cậu ruột, còn ông Từ Văn M là ông ngoại chị.
Sau khi mẹ con chị xây xong dãy nhà trọ (tháng 9/2021) thì giữa ông Q và nhà chị phát sinh mâu thuẫn về lối đi. Ông Q và vợ là bà H1 có xây tường cay trên lối đi chung của nhà chị và nhà ông Q, ông M và ông V có chở đá lấp lối đi chung, không cho gia đình chị đi vào và không cho công nhân đi vào.
Đối với lối đi chung này là do gia đình chị và gia đình ông Q và ông T2 có góp chung tiền để đổ bê tông làm lối đi chung này.
Trước đây giữa hai gia đình không hề có tranh chấp gì, nhưng từ sau khi gia đình chị xây xong phòng trọ và cho công nhân thuê thì ông ngoại chị và vợ chồng cậu Q có xảy ra mâu thuẫn về tranh chấp lối đi và không cho công nhân nhà chị vào. Nguyên nhân tại sao ông chị và cậu Q xây lại và không cho gia đình chị đi thì chị không được biết.
Lối đi chung này có chiều dài là 28m và chiều rộng khoảng là 2,2m, ông Q đã xây tường lấn vào lối đi chung này khoảng 1,1m.
Vị trí tiếp giáp của lối đi như sau: Một cạnh giáp của nhà chị M1 (hiện nay chị M1 đã bán cho ai chị không biết), một cạnh giáp đất nhà ông Q, đi sâu vào trong là đất nhà chị, bên ngoài giáp đường liên xã. Ngoài lối đi chung này thì gia đình chị không còn lối đi nào khác.
Chị H đã làm đơn khởi kiện ông Q đến UBND xã T để hoà giải nhưng hai bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nay, chị đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của em gái chị và giải quyết buộc ông Từ Văn Q tháo rỡ công trình đã xây dựng trên lối đi chung để trả lại lối đi chung cho gia đình chị H.
Chị đề nghị Toà án nhân dân huyện Yên Dũng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà chị đã giao nộp, căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Bản thân chị không có quyền lợi gì đối với thửa đất này nên chị không có bất cứ yêu cầu gì. Toàn bộ thửa đất này là thuộc quyền sở hữu của một mình em gái chị là chị Phùng Thị H.
Ngoài ra, chị Phùng Thị H2 không có ý kiến nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã T và UBND huyện Y trình bày:
+ Về nguồn gốc lối đi đang tranh chấp: Lối đi này được hình thành từ trước những năm 1993 dùng để đi vào thửa đất của gia đình ông Thân Văn M2. Sau đó ông M2 chuyển nhượng lại thửa đất này cho ông Từ Văn M.
Căn cứ bản đồ đo vẽ năm 2007 của UBND xã T, huyện Y thì thửa đất của gia đình ông Thân Văn M2 chuyển nhượng cho ông Từ Văn M là một phần thửa đất số 75, tờ bản đồ địa chính số 77.
Lối đi này có các vị trí tiếp giáp như sau:
- + Phía Đông giáp thửa đất số 150 (được chỉnh lý từ thửa số 75) có chiều dài là 29,28m.
- + Phía Nam giáp thửa đất số 158 (chỉnh lý năm 2016) có kích thước là 1,75m.
- + Phía Tây giáp rãnh thoát nước (rãnh thoát nước liền kề với thửa đất số 65) có chiều dài là 29,5m.
- + Phía Bắc giáp rãnh thoát nước, liền kề rãnh thoát nước là đường bê tông liên xã có chiều rộng là 1,8m.
Mã đất của lối đi là DT thuộc thửa số 74 là thuộc đất giao thông, được quản lý theo quy định về đất giao thông.
Nay bà Phùng Thị H khởi kiện ông Từ Văn Q về đòi lối đi, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định về đất giao thông đối với vị trí trên.
Ngoài ra, UBND xã T và UBND huyện Y không có ý kiến nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B do bà Đỗ Thị V1 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 10/11/2016, ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1 có đơn xin tách thửa đất, hợp thửa đất (theo mẫu số 11/ĐK) tách thửa đất số 75, tờ bản đồ địa chính số 77 ra làm 02 thửa đất, thửa số 150, diện tích 241,2m² (100m2 đất ở, 141,2m² đất trồng cây lâu năm) và thửa đất số 151 diện tích 93,8m² đất trồng cây lâu năm. Ngày 14/11/2016 ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1 có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 150, tờ bản đồ địa chính số 77, diện tích 241,2m² (100m² đất ở, 141,2 m² đất trồng cây lâu năm); còn thửa đất số 151, tờ bản đồ địa chính số 77, diện tích 93,8m² đất trồng cây lâu năm, ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng cho bà Từ Thị L theo Hợp đồng được UBND xã T chứng thực, số chứng thực 107 quyển số 01 ngày 14/11/2016. Tại phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 150, tờ bản đồ 77 ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1 ký ngày 10/11/2016 thể hiện kích thước các cạnh như sau: Cạnh phía Bắc (giáp đường đi về UBND xã T) dài 6,87m; cạnh phía Đông (giáp thửa ông Từ Văn T3) dài 35,65m, cạnh phía Tây (giáp thửa 74) có 3 đoạn dài lần lượt là 16,86m, 12,42m, 6,33m; cạnh phía Nam dài 6,63m.
Trên cơ sở hồ sơ công dân nộp Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thẩm tra trình Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1 tại thửa 150, tờ bản đồ 77, diện tích 241,2 m² (100m² đất ở, 141,2m² đất trồng cây lâu năm). Ngày 16/12/2016 Sở T 01 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CE 779185, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS 00760 mang tên ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1.
Bà khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1 được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định.
Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp lối đi chung tại Tòa án, ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1 có cung cấp bản sao của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CE 779185 ngày 16/12/2016, bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện cạnh tiếp giáp với đường đi về UBND xã không rõ và không trùng khớp với hồ sơ lưu tại Chi nhánh.
Ngoài ra, bà Đỗ Thị V1 không có ý kiến nào khác.
* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với diện tích 61m² đất là lối đi chung ở thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 07/3/2023 như sau:
Hội đồng xem xét thẩm định tiến hành xem xét thẩm định đối với lối đi theo yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị H. Lối đi có địa chỉ tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có các vị trí tiếp giáp cụ thể như sau:
Phía Đông giáp đất nhà anh Từ Văn Q; phía Tây giáp đất hộ anh T4; phía Nam giáp đất hộ anh T5 Văn Vịnh và đất chị H; phía Bắc giáp đường đi của thôn.
Trên lối đi có 01 tường cay ở giữa đường trong đó một đoạn (giáp với đất hộ anh V và đất hộ chị H) có chiều dài 23m, cao 14cm, dày 08cm; một đoạn ở giữa dài 7,2m, cao 32cm, dày 13cm; một đoạn giáp với gần đường đi của thôn dài 1,9m, cao 1,27m, dày 13cm. Tường được xây dựng năm 2022.
* Kết quả định giá tài sản ngày 07/3/2023 như sau:
Trên lối đi có một phần đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Từ Văn Q (theo anh Q trình bày) khoảng 31,2m². Đối với phần đất này Hội đồng đình giá căn cứ vào Quyết định số 72/2021/QĐ-UBND ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh B ban hành quy định bảng giá đất giai đoạn 2022-2024 tỉnh Bắc Giang thì phần diện tích đất trên thuộc vị trí 1, khu vực 1 có giá là 1.800.000 đồng/01m².
Phần diện tích lối đi còn lại đang tranh chấp là đất công, mục đích sử dụng là đất lối đi nên không định giá, phần diện tích này khoảng 29,8m².
Phần diện tích nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Từ Văn Q (theo ông Q trình bày) khoảng 31,2m² giá trị là 14.000.000 đồng/01m² (Theo giá khảo sát tại vị trí tương đồng tại thời điểm định giá).
Trên lối đi có 01 tường cay ở giữa đường xây năm 2022 (đặc điểm theo biên bản xem xét thẩm định) có giá trị sử dụng còn lại là 964.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo, quyết định tố tụng cho bị đơn là chị Nguyễn Thị H1. Tuy nhiên, chị H1 không cung cấp lời khai và quan điểm về vụ án cho Tòa án.
Ngày 05/5/2023, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng chứ và hòa giải nhưng các đương sự đề nghị không hòa giải nên các đương sự không thống nhất được về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS-ST ngày 06/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng đã quyết định:
1. Căn cứ: Điều 203; Điều 254 Luật đất đai. Điều 254 Bộ luật dân sự;
Khoản 3, 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
2. Xử:
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị H đối với ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1.
2.2. Xác định thửa đất số 74, tờ bản đồ số 77 bản đồ địa chính chính quy được đo vẽ năm 2007 của UBND xã T có diện tích 50,6m² tương ứng với hình ABCDE, thửa đất có chiều dài các cạnh như sau: AB= 1,8m; BC =16,86m; CD= 12,42m; DE= 1,75m; EA= 29,5m (có sơ đồ kèm theo) là lối đi chung.
2.3. Buộc ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ bức tường cay có diện tích là 7,9m², trong đó một đoạn có chiều dài 23m, cao 14cm, dày 08cm; một đoạn ở giữa dài 7,2m, cao 32cm, dày 13cm; một đoạn giáp với gần đường đi của thôn dài 1,9m, cao 1,27m, dày 13cm. Bức tường nằm trên lối đi chung có diện tích 50,6m² thuộc thửa số 74, tờ bản đồ số 77 bản đồ địa chính chính quy đo vẽ năm 2007 của UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; lối đi chung có địa chỉ tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 20/10/2023, bị đơn ông Từ Văn Q kháng cáo đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn trình bầy giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.
Phía bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn về việc kiện đòi lối đi chung.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- - Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Q; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Từ Văn V, Ủy ban nhân dân xã T, Ủy ban nhân dân huyện Y, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Từ Văn Q, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về nguồn gốc đất:
Nguồn gốc của lối đi có diện tích là 50,6m² (theo kết quả đo đạc) được hình thành từ những năm 1993, dùng để đi vào thửa đất của gia đình ông Thân Văn M2. Sau đó ông M2 chuyển nhượng lại thửa đất này cho ông Từ Văn M. Hiện nay lối đi này dùng để đi vào thửa đất nhà chị Phùng Thị H.
Trên lối đi hiện nay có 01 tường cay ở giữa đường, trong đó một đoạn (giáp với đất hộ anh V và đất hộ chị H) có chiều dài 23m, cao 14cm, dày 08cm; một đoạn ở giữa dài 7,2m, cao 32cm, dày 13cm; một đoạn giáp với gần đường đi của thôn dài 1,9m, cao 1,27m, dày 13cm. Tổng diện tích của bức tường là 7,9m².
[2.2] Căn cứ lời khai của các bên đương sự có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện trước khi tranh chấp, gia đình chị H vẫn sử dụng lối đi có diện tích là 50,6m² này và có chung tiền với ông Q và ông Từ Văn T2 (em trai ruột bà L) để đổ bê tông làm lối đi chung của 3 gia đình.
Đại diện Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân huyện Y có quan điểm lối đi này được hình thành từ trước những năm 1993 dùng để đi vào thửa đất của gia đình ông Thân Văn M2. Sau đó ông M2 chuyển nhượng lại thửa đất này cho ông Từ Văn M. Mã đất của lối đi là DT thuộc thửa số 74 là thuộc đất giao thông, được quản lý theo quy định về đất giao thông.
Tại Hồ sơ tách thửa đất, hợp thửa đất và hồ sơ cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất năm của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y đối với diện tích đất 241,2m² của ông Q, bà H1 thể hiện thửa đất này có cạnh giáp đường bê tông của thôn L có chiều rộng là 6.87m (có sơ đồ kèm theo). Ông Q thừa nhận Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông là đúng và diện tích đất 241,2m² của gia đình ông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng.
Ngày 07/3/2023, Hội đồng xem xét thẩm định tiến hành xem xét thẩm định đối với lối đi. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc hiện trạng phù hợp với Hồ sơ tách thửa đất, hợp thửa đất và hồ sơ cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y đối với diện tích đất 241,2m² của ông Q, bà H1; phù hợp với bản đồ địa chính chính quy được đo vẽ năm 2007 của UBND xã T, huyện Y.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định thửa đất số 74, tờ bản đồ số 77 bản đồ địa chính chính quy được đo vẽ năm 2007 của UBND xã T có diện tích 50,6m² tương ứng với hình ABCDE, thửa đất có chiều dài các cạnh như sau: AB= 1,8m; BC =16,86m; CD= 12,42m; DE= 1,75m; EA= 29,5m (có sơ đồ kèm theo) là lối đi chung; lối đi chung có địa chỉ tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị H về nội dung này là có căn cứ.
[2.3] Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 07/3/2023 thì trên lối đi có 01 tường cay ở giữa đường trong đó một đoạn (giáp với đất hộ anh V và đất hộ chị H) có chiều dài 23m, cao 14cm, dày 08cm; một đoạn ở giữa dài 7,2m, cao 32cm, dày 13cm; một đoạn giáp với gần đường đi của thôn dài 1,9m, cao 1,27m, dày 13cm. Tường được xây dựng năm 2022. Ông Q thừa nhận bức tường cay này là do vợ chồng ông xây dựng.
Do xác định thửa đất số 74, tờ bản đồ số 77 bản đồ địa chính chính quy được đo vẽ năm 2007 của UBND xã T có diện tích 50,6m² tương ứng với hình ABCDE, thửa đất có chiều dài các cạnh như sau: AB= 1,8m; BC =16,86m; CD= 12,42m; DE= 1,75m; EA= 29,5m (có sơ đồ kèm theo) là lối đi chung, ông Q, bà H1 xây dựng bức tường cay chắn trên lối đi chung này là trái phép. Do đó, cần buộc ông Từ Văn Q và bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ bức tường cay có diện tích 7,9m² xây dựng trên lối đi chung này.
Ngoài những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, phía bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
Từ những đánh giá trên, không căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Từ Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.
[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận ông Từ Văn Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Từ Văn Q. Giữ bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS-ST ngày 06/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án
Ông Từ Văn Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số 0000446 ngày26/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng. Xác nhận ông Q đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 100/2024/DS-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp lối đi chung
- Số bản án: 100/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lối đi chung
