Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-9-2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Công

Các Hội thẩm nhân dân:

  • +Ông Đặng Công Kiên
  • + Bà Phan Thị Phương My.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Hồ Vũ Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10/6/2024 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1998.

    Nơi cư trú: 10 kiệt 19 L, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Viết T, sinh năm 1988.

    Nơi cư trú: Đội 3, thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 21 tháng 5 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày:

Giữa chị và anh Nguyễn Viết T tự nguyện chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 22/01/2019. Qúa trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã nhau. Vợ chồng không chung sống với nhau hơn 03 năm nay. Nay chị N nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể khắc phục được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết chị được ly hôn với anh Nguyễn Viết T.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 02/7/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay, bị đơn là anh Nguyễn Viết T trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Thanh N tự nguyện chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 22/01/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 1 năm rưỡi thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mâu thuẫn về kinh tế, chị N thấy sống với anh không có tương lai nên bỏ về nhà mẹ sinh sống. Hai vợ chồng không chung sống với nhau gần 2 năm rưỡi. Anh vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị N nên chị N yêu cầu xin ly hôn anh thì anh không đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án huyện Quảng Điền đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau nhưng không thành nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên tòa:

Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

- Việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng:

Trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.

Nguyên đơn và bị đơn có mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Viết T

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh N có đơn xin ly hôn bị đơn là anh Nguyễn Viết T có nơi cư trú tại: Thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế nên tranh chấp trên được xác định là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt và bị đơn có mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Nguyễn Viết T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 22/01/2019, điều kiện và thủ tục kết hôn đúng quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Qúa trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được 1 thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên 2 anh chị không chung sống với nhau gần 3 năm nay. Chị N nhận thấy không còn tình cảm với anh T và có yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Anh T cũng thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân của vợ chồng cũng có nảy sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế. Hai vợ chồng không chung sống với nhau cũng gần 2 năm rưỡi. Anh T không đồng ý ly hôn nhưng lại không có biện pháp để vợ chồng đoàn tụ, đồng thời trong thời gian vợ chồng sống ly thân 2 vợ chồng bỏ mặc không quan tâm nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu. Gia đình chị N cũng xác nhận, vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể khắc phục được nên đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho chị N được ly hôn với anh T. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn của chị N và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh T.

[2.2] Về nuôi con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung: Các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh N phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Viết T.
  • Về nuôi con chung: Vợ chồng không con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về nợ chung: Vợ chồng không nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai thu số: 0000629 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền, chị N đã nộp đủ án phí ly hôn.
  • Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT.Huế;
  • - VKSND huyện Quảng Điền;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Điền;
  • - UBND xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền;
  • (ĐKKH số 04 ngày 22/01/2019)
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Trương Quốc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn

  • Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger