Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST
Ngày 03-5-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phích

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Luyến

Ông Phạm Mạnh Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu N; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; hiện trú tại: Số C N, L, N, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Vũ Gia P; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; hiện trú tại: Ho Y CO., N1.7, L, M road, H-TS O, T-S, C-H, Taiwan R; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu N trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện của hai bên và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Phòng vào ngày 04 tháng 8 năm 2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và yêu thương nhau. Đến tháng 11/2014, chị N sang Đài Loan làm việc và sinh sống. Thời gian này, do cách trở về địa lý nên tình cảm của vợ chồng trở nên lạnh nhạt. Đến tháng 02/2015, anh P cũng sang Đài Loan để làm việc và hàn gắn lại tình cảm gia đình tuy nhiên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng và gay gắt. Vợ chồng không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau, không còn liên lạc với nhau nữa. Nay chị N nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh P theo quy định pháp luật

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P có hai con chung là cháu Vũ Gia Trung N2, sinh ngày 05/12/2004 và cháu Vũ Thị Ngọc H1, sinh ngày 22/6/2007. Ly hôn, chị Nguyễn Thị Thu N đề nghị Tòa án giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Thị Ngọc H1 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Cháu Vũ Gia Trung N2 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các bản tự khai, anh Vũ Gia P trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Gia P và chị Nguyễn Thị Thu N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Phòng vào ngày 04 tháng 8 năm 2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận. Đến tháng 11/2014, chị N sang Đài Loan làm việc và sinh sống thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Do khoảng cách địa lý mỗi người ở một nơi nên tình cảm của vợ chồng trở nên lạnh nhạt. Đến tháng 02/2015, anh P cũng sang Đài Loan để làm việc và hàn gắn lại tình cảm gia đình tuy nhiên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng và gay gắt, không thể hòa hợp. Hiện nay, vợ chồng không còn liên lạc với nhau và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên anh P đồng ý ly hôn với chị N, đề nghị Tòa án giải quyết anh chị được ly hôn theo quy định pháp luật.

Về con chung: Anh Vũ Gia P và chị Nguyễn Thị Thu N có hai con chung là cháu Vũ Gia Trung N2, sinh ngày 05/12/2004 và cháu Vũ Thị Ngọc H1, sinh ngày 22/6/2007. Ly hôn, anh P đồng ý giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Thị Ngọc H1 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Cháu Vũ Gia Trung N2 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con, anh Vũ Gia P và chị Nguyễn Thị Thu N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Vũ Gia P và chị Nguyễn Thị Thu N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Thu N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với anh Vũ Gia P nên quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P hiện đang sinh sống tại Đài Loan và cùng có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng. Do vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P vắng mặt nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 04 tháng 8 năm 2004. Theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và bị đơn, nhận thấy: Từ khi chị Nguyễn Thị Thu N sang Đài Loan sinh sống và làm việc, anh P và chị N phát sinh mâu thuẫn, tình cảm phai nhạt dần do vợ chồng mỗi người ở một nơi, dù anh P cùng sang Đài Loan để hàn gắn tình cảm nhưng vợ chồng vẫn tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Nay chị N yêu cầu xin ly hôn với anh P, anh P đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Nhận thấy, cả hai anh chị đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu N đối với anh Vũ Gia P.

[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P có hai con chung là cháu Vũ Gia Trung N2, sinh ngày 05/12/2004 và cháu Vũ Thị Ngọc H1, sinh ngày 22/6/2007. Ly hôn, chị N và anh P cùng đề nghị giao con chung Vũ Thị Ngọc H1 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu Vũ Gia Trung N2 đã đủ 18 tuổi nên anh chị không yêu cầu giải quyết.Cháu Vũ Thị Ngọc H1 có nguyện vọng được ở với chị N trong trường hợp bố mẹ cháu ly hôn. Xét thấy, việc chị N và anh P yêu cầu giao con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình và phù hợp với nguyện vọng của con chung nên cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, chị N và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên cần ghi nhận sự thỏa thuận của chị N và anh P về việc tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khooản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị Thu N.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn anh Vũ Gia P.

1.2. Về con chung: Giao con chung là cháu Vũ Thị Ngọc H1, sinh ngày 22/6/2007 cho chị Nguyễn Thị Thu N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung là cháu Vũ Gia Trung N2 đã đủ 18 tuổi nên không xem xét, giải quyết. Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P về việc tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

1.3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Vũ Gia P không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000188 ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Thu N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị Thu N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh Vũ Gia P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP. Hải Phòng;
  • - Ủy ban nhân dân xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Phích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger