Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 100/2025/HS-ST

Ngày: 24/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lưu Thị Thôi

2/ Ông Đặng Thanh Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 382/2024/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Đỗ Hải Đ.

Giới tính: N, Sinh năm 1994 tại Bình Thuận, Nơi cư trú: thôn X, xã P, thành phố P, Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không, Trình độ học vấn: 9/12, Nghề nghiệp: không, Cha: Đỗ Cẩm B, sinh năm 1966, Mẹ: Chế Hồng T, sinh năm 1968, Hiện trú: thôn X, xã P, thành phố P, Anh chị em ruột: có 03 người, bị can là con thứ ba trong gia đình, Vợ: Võ Thị Út H, sinh năm 1994, Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018, Hiện trú: thôn X, xã P, thành phố P, Tiền án, tiền sự: không, Nhân thân: Không, bị cáo bắt tạm giam vào ngày 02/10/2024 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Phân trại tạm giam khu vực P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

anh Nguyễn Văn C - sinh năm 1990 (có mặt)

Trú tại: Số nhà C, đường số C, phường I, quận G, thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2020, Đỗ Hải Đ mua và đứng tên đăng ký chủ sở hữu đối với xe ô tô hiệu Mazda màu đỏ, loại xe 4 chỗ biển số 86A – 137.37. Đến ngày 29/9/2021, Đ đã bán xe ô tô trên cho anh Trương Quang N1 với giá 570.000.000 đồng. Đến ngày 03/11/2021, anh N1 bán lại xe ô tô trên cho bà Nguyễn Thị T1 với giá 100.000.000 đồng.

Mặc dù không còn sở hữu xe ô tô biển số 86A – 137.37 nhưng vào tháng 01/2024, do muốn chiếm đoạt tiền của người khác nên Đ đã sử dụng hình ảnh xe ô tô biển số 86A – 137.37 đã chụp trước đó đăng lên mạng xã hội Facebook với nội dung “cần bán xe ô tô biển số 86A – 137.37 với giá 440.000.000 đồng”.

Ngày 12/01/2024, anh Nguyễn Văn C liên hệ với Đ thông qua tài khoản zalo của Đ (đăng ký bằng số điện thoại 0944.293.xxx) đồng ý mua xe ô tô biển số 86A – 137.37 với giá nêu trên. Đ yêu cầu anh C chuyển tiền đặt cọc 40.000.000 đồng và hẹn ngày 15/01/2024 sẽ cùng anh C làm thủ tục chuyển quyền sở hữu và giao xe cho anh C tại thành phố Hồ Chí Minh. Anh C tưởng thật nên sử dụng tài khoản của anh C số 89396666668888 mở tại ngân hàng T2 chuyển số tiền 40.000.000 đồng vào tài khoản của Đăng số 33086019019686 mở tại ngân hàng H1. Đến ngày 14/01/2024, Đ tiếp tục bảo anh C chuyển thêm 10.000.000 đồng tiền cọc mua xe cho Đ thì anh C đồng ý và chuyển khoản cho Đ số tiền 10.000.000 đồng thông qua số hai tài khoản nêu trên. Đến ngày 15/01/2024, anh C gọi điện cho Đ và yêu cầu Đ vào thành phố Hồ Chí Minh làm thủ tục chuyển quyền sở hữu và giao xe ô tô biển số 86A – 137.37 cho anh C nhưng Đ nói dối làm thủ tục không kịp và hẹn qua ngày 16/01/2024. A C1 thấy vậy thì nghi ngờ Đ nên đến cửa hàng bảo dưỡng xe ô tô của hãng M tại thành phố Hồ Chí Minh nhờ nhân viên kiểm tra thông tin của xe ô tô biển số 86A – 137.37 thì được biết xe bị lỗi nặng do tai nạn giao thông nên anh C1 nói với Đ không mua xe ô tô biển số 86A – 137.37 nữa và yêu cầu Đ trả lại số tiền 50.000.000 đồng mà anh C1 đã đặt cọc. Do đã tiêu xài hết số tiền C1 đặt cọc nên Đ tiếp tục nói dối, nhờ anh C1 bán xe ô tô nêu trên với giá 370.000.000 đồng để lấy tiền trả lại cho anh C1. Ngày 18/01/2024, anh C1 tìm được người mua xe và yêu cầu Đ đưa xe ô tô biển số 86A – 137.37 vào thành phố Hồ Chí Minh để giao cho người mua. Lúc này, để tạo niềm tin với anh C1, Đ gửi video Đ đang đi trên đường cao tốc vào thành phố Hồ Chí Minh để giao xe cho anh C1 (video này Đ đã quay trước đó) đồng thời bảo anh C1 chuyển tiếp 5.000.000 đồng tiền đặt cọc xe qua tài khoản của Đ. Tin tưởng Đ nên anh C1 tiếp tục chuyển số tiền 5.000.000 đồng qua tài khoản nêu trên của Đ. Đến tối ngày 18/01/2024, anh C1 đợi không thấy C1 gặp mình để giao xe nên gọi điện thoại cho Đ thì Đăng tắt máy. Đến ngày 06/03/2023, anh C1 làm đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P, Đ có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 55.000.000 đồng của anh C1.

Dân sự:

Nguyễn Văn C yêu cầu Đỗ Hải Đ bồi thường số tiền 55.000.000 đồng. Hiện Đ đã bồi thường cho anh C 36.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 348/CT-VKS ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Đỗ Hải Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Đỗ Hải Đ mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • - Về phần dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Hải Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn C 19.000.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và hứa sẽ trở thành công dân tốt, tuân theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo:

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phạm tội của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ đủ cơ sở để kết luận: Mặc dù Đỗ Hải Đ không còn sở hữu xe ô tô biển số 86A – 137.37, nhưng do muốn chiếm đoạt tiền của người khác nên Đ đã dùng thủ đoạn gian dối, sử dụng hình ảnh xe ô tô biển số 86A – 137.37 đã chụp trước đó đăng bán xe trên mạng xã hội Facebook với giá 440.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn C tưởng thật nên đã đồng ý mua xe ô tô trên của Đ. Sau đó, Đ yêu cầu anh C chuyển khoản tiền đặt cọc mua xe cho Đ. Do tin tưởng Đ nên anh C đã dùng tài khoản số 89396666668888 mở tại ngân hàng T2 chuyển vào tài khoản số 33086019019686 mở tại ngân hàng H1 của Đ tổng số tiền 55.000.000 đồng (trong đó ngày 12/01/2024 chuyển 40.000.000 đồng, ngày 14/01/2024 chuyển 10.000.000 đồng và ngày 18/01/2024 chuyển 5.000.000 đồng). Sau khi nhận được 55.000.000 đồng tiền cọc từ anh C, Đ đã tiêu xài hết số tiền trên. Do vậy, Cáo trạng số 348/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Đỗ Hải Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy, bị cáo ý thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ thế nhưng chỉ vì cần tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện nộp lại 01 phần tiền để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, tại phiên tòa được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì vậy khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Hải Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn C 19.000.000 đồng.

[6] Bị cáo phải nộp tiền án phí và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Hải Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt: Đỗ Hải Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/10/2024.

  2. Về trách nhiện bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 584 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Đỗ Hải Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn C 19.000.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Hải Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 950.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/3/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an tp Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán-Chủ Tọa Phiên Tòa

Nguyễn Lưu Triều

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Thôi

Nguyễn Lưu Triều

Đặng Thanh Tấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 100/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger