Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2025/HSST

Ngày: 27/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị The; Ông Tống Văn Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Bà Giàng Thị Dơ- Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở TAND huyện Mường Tè, Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Chu Hà G, sinh năm 1994, tại huyện M, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 6/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Ha X và con bà Pờ Ứ N (cả hai đều đã chết); Bị cáo có vợ: Vàng Xé X1, sinh năm 1995 và có 01 con đã chết; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Mường Tè thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L có mặt tại phiên tòa.

Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Vàng Ma X2, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu phố G, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H- Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 21/02/2025, Chu Hà G một mình đi bộ từ bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu lên bản T, xã T để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đi đến khu vực cách bản Nhóm Pố khoảng 03 km về hướng bản Tá Bạ, Chu Hà G gặp một người phụ nữ dân tộc La Hủ (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ). Qua trao đổi, G đã mua của người này 02 gói Heroine đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được H1, G cất vào túi quần sau bên phải đang mặc, rồi đi về nhà tại bản N, xã T.

Hồi 19 giờ 05 phút cùng ngày, khi G về đến bản N, xã T thì bị tổ công tác Công an xã T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong túi quần sau bên phải Giá đang mặc trên người 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,21 gam. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản Kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 24/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: “02 mẫu chất bột khô màu trắng thu giữ của Chu Hà G có tổng khối lượng là 0,21 gam; là ma túy, loại Heroine".

Tại bản cáo trạng số 57/CT- VKS-MT ngày 09/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Chu Hà G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Chu Hà G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Chu Hà G từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì Công văn do Công an xã T phát hành đã bị cắt một đầu.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, nội dung bản luận tội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất trong khoảng đề nghị của Viện kiểm

2

sát và xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát, bản luận cứ bào chữa của người bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên; Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 19 giờ 05 phút ngày 21/02/2025, tại bản N, xã T, huyện M. Chu Hà G đang tàng trữ trái phép 0,21 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã T phát hiện, bắt quả tang. Do đó hành vi của bị cáo Chu Hà G đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Chu Hà G là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi,

3

gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế và sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

Bị cáo, Người bào chữa đề nghị xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản để đảm bảo thi hành án, không có nghề nghiệp và thuộc hộ nghèo của UBND xã T nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc ma túy thu giữ trong vụ án: Chu Hà G khai đã mua được của người phụ nữ nhưng do G không biết họ, tên của người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để điều tra làm rõ để xử lý trong cùng vụ án này. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại 02 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì Công văn do Công an xã T phát hành đã bị cắt một đầu. Các vật chứng này đều không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo của UBND xã T. Nên cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,

4

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Chu Hà G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Chu Hà G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì Công văn do Công an xã T phát hành đã bị cắt một đầu.

3. Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKS ND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND huyện Mường Tè (01);
  • - Phân trại tạm giam Mường Tè-
  • (01);
  • - PC 10 CA tỉnh (02);
  • - THADS huyện (01);
  • - Bị cáo, NBC (02);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2025/HSST ngày 27/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 100/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger