Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

H. CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 100/2025/HS-ST

Ngày: 26/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Đặng Thị Luyến

Thư ký phiên tòa: Ông Tô Mạnh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Chương Mỹ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/HSST-QĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trịnh Đình L; tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1995; ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông Trịnh Đình T và bà Nguyễn Thị D; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có ba anh chị em; có vợ Nguyễn Thị S, sinh năm 1995; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2024

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2025 đến ngày 29/3/2025 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.

2. Họ và tên: Nguyễn Đăng L1; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1984; ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông Nguyễn Đăng L2 và bà Dương Thị H; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 05 chị em; Có vợ là Đỗ Thị Kim S1 năm 1985; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 21/9/2022, bị TAND huyện Chương Mỹ xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 12 tháng, đã nộp án phí HSST theo Biên lai số 58301 ngày 03/10/2022 tại Chi cục THADS huyện C (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2025 đến ngày 29/3/2025 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.

3. Họ và tên: Nguyễn Trọng S2; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1992; ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện C, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Trọng N và bà Nguyễn Thị V; Bị cáo là thứ hai trong gia đình có hai chị em; Vợ, con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2025 đến ngày 29/3/2025 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.

4. Họ và tên: Nguyễn Trọng T1; Tên gọi khác: Không ; Sinh năm: 1981; ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Trọng T2 và bà Hạ Thị M; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có bốn anh chị em; có vợ là Mai Thị T3, Sinh năm: 1983; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2021

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2025 đến ngày 29/3/2025 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.

5. Họ và tên: Đỗ Công T4; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1970; ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; con ông Đỗ Công S3 và bà Hạ Thị M1; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có sáu anh chị em; có vợ là Nguyễn Thị T5, Sinh năm: 1973; Có 05 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2002;

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2025 đến ngày 29/3/2025 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 20/3/2025, Trịnh Đình L và Nguyễn Đăng N1 (Sinh năm: 1971, trú tại: T, xã T, huyện C, TP .), đang ở nhà L ngồi chơi, uống nước thì có Nguyễn Trọng S2, Đỗ Công T4, Nguyễn Đăng L1 và Nguyễn Trọng T1 đến nhà L chơi. Tại đây, các đối tượng S2, L1, T4, T1 cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh chắn quăng được thua bằng tiền và xin phép L cho đánh bạc tại nhà L. L đồng ý, đồng thời cung cấp 01 bộ bài chắn, 01 đĩa men sứ, trải 01 chiếu nhựa và ngồi chia bài cho các đối tượng đánh bạc để hưởng lợi tiền “Gà”.

Các đối tượng tự quy ước đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Chắn quăng” được thua bằng tiền, sát phạt như sau: Ù xuông 30.000 đồng, dịch 10.000 đồng, cách tính tiền các cước “Ù” như sau: Xuông 30.000 đồng; T6, Chì 40.000 đồng; T7, Bạch thủ 50.000 đồng; Lèo 60.000 đồng; Bạch định 70.000 đồng; Bạch thủ chi 60.000 đồng; T đỏ 80.000 đồng; T đỏ hai lèo 120.000 đồng; Bạch thủ ù chi: 70.000 đồng. Có 04 cước có tiền “Gà” gồm: T đỏ, L3 tôm, Chì bạch thủ, Bạch định, ba người thua bạc sẽ trả cho người thắng thêm 100.000 đồng. Người thắng ván “Ù” có tiền “Gà” sẽ trả cho L tiền “Gà”, đối với 4 ván ù gà đầu tiên thì người thắng bạc sẽ cho L mỗi ván 40.000 đồng; từ ván ù gà thứ 5 trở đi thì người thắng bạc sẽ cho L mỗi ván 20.000 đồng.

Quá trình các đối tượng đang tham gia đánh bạc có Trịnh Đình T8 (Sinh năm: 1991), Vũ Viết D1 (Sinh năm: 1987), Trịnh Đình V1 (Sinh năm: 1979), tất cả đều trú tại thôn T, xã T, huyện C, TP . đến nhà L chơi và ngồi xem các đối tượng đánh bạc. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang tham gia đánh bạc thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) chiếu nhựa;

- 02 (hai) bộ bài chắn mỗi bộ gồm 100 quân bài;

- 01 (một) đĩa men sứ;

- Tổng số tiền thu giữ là 6.685.000 đồng (Trong đó: T5 trên chiếu bạc số tiền là 3.555.000 đồng; T9 “Gà” là 180.000 đồng do Trịnh Đình L giao nộp và thu trên người của Nguyễn Trọng S2 là 2.950.000 đồng).

Quá trình điều tra xác định hành vi cụ thể của các bị cáo như sau:

1. Trịnh Đình L đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình, đồng thời cung cấp 01 bộ bài chắn, 01 đĩa men sứ, trải 01 chiếu nhựa và ngồi chia bài cho các đối tượng đánh bạc để hưởng lợi tiền “Gà”. Khi bị bắt lực L tự nguyện giao nộp số tiền 180.000 đồng là tiền gà mọi người bỏ ra cho L hưởng.

2. Nguyễn Đăng L1 mang theo số tiền 1.670.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc, L1 ù 02 cước, đã bỏ ra ngoài 60.000 đồng tiền “gà”. Khi bị bắt L1 bỏ tất cả tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua.

3. Nguyễn Trọng S2 mang theo số tiền 3.300.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc, S2 ù 03 cước, đã bỏ ra ngoài 120.000 đồng tiền “gà”. Khi bị bắt S2 bỏ tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua, còn số tiền 2.950.000 đồng trên người S2 đã tự nguyện giao nộp.

4. Nguyễn Trọng T1 mang theo 860.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt T1 bỏ tất cả tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua.

5. Đỗ Công T4 mang theo 855.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt T4 bỏ tất cả tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định số tiền 3.735.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc (trong đó có 180.000 đồng tiền “Gà”) và 2.950.000 đồng thu giữ trên người Nguyễn Trọng S2 là tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 6.685.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 10/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ đã truy tố các bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa:

- Các Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng quy kết. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo và những người khác tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

- Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích nguyên nhân, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321 các điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 38 (đối với L1) Bộ luật Hình sự;

Đề nghị xử phạt:

Bị cáo Trịnh Đình L từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 đến 24 tháng;

Nguyễn Đăng L1 từ 09 đến 12 tháng tù

Nguyễn Trọng S2 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 đến 24 tháng;

Nguyễn Trọng T1 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 đến 18 tháng;

Đỗ Công T4 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 đến 18 tháng;

Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về trách nhiệm hình sự.

Lời khai của bị cáo tại tiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với vật chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 20/3/2025, tại thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội, Trịnh Đình L đã sử dụng nhà ở của mình, đồng thời cung cấp 01 bộ bài chắn, 01 đĩa men sứ, trải 01 chiếu nhựa và ngồi chia bài cho Nguyễn Đăng L1, Nguyễn Trọng S2, Nguyễn Trọng T1, Đỗ Công T4tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn quăng”, sát phạt nhau bằng tiền, để L hưởng lợi tiền “Gà”. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 6.685.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang tham gia đánh bạc thì bị lực lượng Công an Thành phố H phối hợp với Công an xã T bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Các Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo mới đủ tính răn đe.

Đối với Bị cáo Trịnh Đình L, bị cáo là người cho mượn địa điểm để các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc, hành vi của bị cáo tuy chưa đủ để cấu thành tội Tổ chức đánh bạc nhưng bị cáo thực hiện hành vi chia bài, thu tiền phế, giúp sức các bị cáo về việc đánh bạc. Đối với bị cáo Nguyễn Đăng L1 đánh bạc với số tiền hơn một triệu sáu, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc, tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm gương, vẫn tiếp tục phạm tội, nên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Trọng S2, với số tiền hơn 2,9 triệu, số tiền nhiều nhất

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ chung là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo Trịnh Đình L, Nguyễn Trọng S2, Nguyễn Trọng T1, Đỗ Công T4 phạm T10 lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo L, S2, T4, T1 ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ có tính chất răn đe đối với các bị cáo, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Đối với bị cáo L1, tuy rằng bị cáo đã được xóa án tích, xong án tích của bị cáo mới được xóa, bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Đăng N1, Trịnh Đình T8, Vũ Viết D1, Trịnh Đình V1 đến nhà L không tham gia đánh bạc, ngồi chơi và xem các đối tượng đánh bạc nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý

[3] Về trách nhiệm dân sự.

Không có

[4] Về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếu nhựa; 02 (hai) bộ bài chắn mỗi bộ gồm 100 quân bài; 01 (một) đĩa men sứ;

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước Tổng số tiền thu giữ là 6.685.000 đồng

Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Trịnh Đình L, Nguyễn Đăng L1, Nguyễn Trọng S2, Nguyễn Trọng T1, Đỗ Trọng C phạm tội “Đánh bạc”

2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 38 (đối với bị cáo L1) Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Đình L 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng L1 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tại giam, tạm giữ từ 21/3/2025 đến 29/3/2025

Xử phạt Nguyễn Trọng S2 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt Nguyễn Trọng T1 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách

Xử phạt Đỗ Công T4 06 tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

3. Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố Tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếu nhựa; 02 (hai) bộ bài chắn mỗi bộ gồm 100 quân bài; 01 (một) đĩa men sứ;

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước Tổng số tiền thu giữ là 6.685.000 đồng

Các Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Các Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - VKSND TP Hà Nội
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 100/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger