TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG Bản án số: 100/2025/HS.ST Ngày 21/11/2025. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhạn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Tài
Bà Huỳnh Thị Kim Oanh
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tuấn, Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025, đối với :
- Nguyễn Văn S, tên gọi khác: (S) sinh ngày 20 tháng 4 năm 1995, tại: Quảng Nam (nay là Đà Nẵng).
Nơi cư trú: Tổ A, khối phố G, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; Số thẻ CCCD: [...], Nơi cấp: Cục C về TTXH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không' Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Công nhân. Con ông Nguyễn D và bà Huỳnh Thị L; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 anh em.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 01/8/2024 bị Công an phường Đ (nay là phường Đ, thành phố Đà Nẵng) xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Nhân thân:
- Ngày 25/8/2015 bị Công an phường Đ (nay là phường Đ, thành phố Đà Nẵng) xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
- Ngày 02/7/2017 bị Công an thị xã Đ xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Ngày 03/7/2017 bị Ủy ban nhân dân phường Đ (nay là phường Đ, thành phố Đà Nẵng) xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác”.
- Ngày 10/4/2018 bị Công an phường Đ (nay là phường Đ, thành phố Đà Nẵng) xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Ném gạch đá vào nhà người khác”.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/4/2025, đến ngày 08/5/2025 chuyển tạm giam.
Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Phân trại tạm giam Điện Bàn thuộc Trại tạm giam số 02 Công an thành phố Đ. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn D, sinh năm: 1967 và bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1966; là cha mẹ ruột bị cáo S; Cùng cư trú: Tổ A, khối phố G, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; bà L có mặt; ông D vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn S có Luật sư Bùi Xuân N - Công ty L1.
Địa chỉ: số I L, phường S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị hại: Ông Huỳnh Phước T, sinh năm: 1971.
Trú tại: khối phố T, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Người làm chứng:
1) Ông Phan Quang P, sinh năm: 1973.
Trú tại: Số D Ông Í, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
2) Ông Nguyễn Duy H, sinh năm: 1990.
Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
3) Ông Trần Quang H1, sinh năm: 1987.
Trú tại: khối N, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 27/4/2025, Nguyễn Văn S điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius màu xám đen, biển kiểm soát 92D1-831.44 chạy trên đường T thuộc khối phố N, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Khi đến trước quán B thì S gặp ông Huỳnh Phước T– người bán vé số – đang điều khiển xe mô tô Cup BKS 43K2-0439 chạy ngược chiều. S dừng xe gọi ông T lại để hỏi mua vé số. S ngồi trên xe, nhận xấp vé số từ ông T đưa, rút ra 13 tờ vé số kiến thiết Thừa Thiên H2 mở thưởng ngày 28/4/2025 và 01 tờ Vietlott in ngày 27/4/2025, mở thưởng ngày 29/4/2025, rồi cất toàn bộ vào túi quần. Khi ông T yêu cầu thanh toán, S lập tức nổ máy bỏ chạy. Ông T đưa tay chụp vào “tay xách” phía sau xe S nhằm giữ lại và hô hoán. S vẫn tiếp tục tăng ga bỏ chạy làm ông T bị kéo lê, ngã xuống đường gây xây xát vùng vai và cánh tay trái. S điều khiển xe về nhà, cất toàn bộ số vé số vào túi quần tây rồi đi ngủ. Ngày 29/4/2025, ông T đến Công an trình báo.
Trong quá trình điều tra, ông T khai bị S chiếm đoạt 20 tờ vé số kiến thiết Huế và 02 tờ V. Tuy nhiên, qua khám xét khẩn cấp, cơ quan điều tra thu giữ tại nơi ở của S 13 tờ vé số H (cùng có số đuôi 83) và 01 tờ V.
* Tại Kết luận định giá tài sản số 33/HĐ.ĐG ngày 03/6/2025 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự UBND thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam kết luận:
- 20 tờ vé số kiến thiết Huế, mở thưởng ngày 28/4/2025, đơn giá 10.000 đồng/01 tờ, tổng giá trị 200.000 đồng;
- 02 tờ V, mở thưởng ngày 29/4/2025, đơn giá 12.000 đồng/tờ, tổng giá trị 24.000 đồng.
Tổng cộng: 224.000 đồng.
* Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 29/4/2025 của Công an phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ) đối với Nguyễn Văn S cho kết quả âm tính với ma tuý.
* Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1354/KLGĐ ngày 20/8/2025 của Trung tâm P1 đối với Nguyễn Văn S kết luận:
- Tại thời điểm phạm tội: S chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
- Hiện tại: tình trạng trên vẫn còn.
- Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ: 01 điện thoại OPPO A54; 01 xe mô tô Sirius BKS 92D1-831.44; 01 áo thun màu trắng; 01 mũ lưỡi trai màu xám;13 tờ vé số Huế; 01 tờ vé số Vietlott; 01 USB 16GB.
Bản Cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 30 tháng 9 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/4/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 224.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
+ Lưu kèm hồ sơ vụ án: 13 tờ vé số kiến thiết Huế ; 01 tờ vé số Vietlott số A: 13 22 30 35 42 51; 01 USB màu đen 16GB hiệu “hoco” và 04 Dĩa DVD hỏi cung bị cáo.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu trắng, mặt trước có in dòng chữ lớn "HIDDLE", mặt sau không in gì; 01 lưỡi trai màu xám, mặt trước có in dòng chữ "NEW YORK 92".
+ Tịch thu, sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Sirius màu xám đen BKS 92D1-831.44;
+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54 màu xanh, gắn sim số 0763612532 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa: Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn S thống nhất lời luận tội của Kiểm sát viên về tội danh nhưng đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến bị hại: Thống nhất với nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành việc xét xử.
[2] Về nội dung:
Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 15 phút ngày 29/4/2025, tại đoạn đường phía trước quán B thuộc khối phố N, phường Đ, thành phố Đà Nẵng, bị cáo đã sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu xám đen BKS 92D1-831.44 tiếp cận, giật 13 tờ vé số kiến thiết thành phố H đều có số đuôi là 83 mở thưởng ngày 28/4/2025, trị giá 130.000 đồng và 01 tờ V số A: 13 22 30 35 42 51 in ngày 27/4/2025 mở thưởng ngày 29/4/2025 trị giá 12.000 đồng, tổng trị giá 142.000 đồng (một trăm bốn mươi hai nghìn đồng) của ông Huỳnh Phước T rồi tăng ga nhanh chóng tẩu thoát dù bị ông Thành giữ lại, tri hô. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Văn S đã có hành vi vào khoảng 17 giờ 15 phút ngày 29/4/2025 giật 13 tờ vé số kiến thiết thành phố H đều có số đuôi là 83 mở thưởng ngày 28/4/2025, trị giá 130.000 đồng và 01 tờ V số A: 13 22 30 35 42 51 in ngày 27/4/2025 mở thưởng ngày 29/4/2025 trị giá 12.000 đồng, tổng trị giá 142.000 đồng và dùng xe máy nhanh chóng tẩu thoát mà không được sự đồng ý của bị hại, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015
(được sửa đổi bổ sung năm 2017) với tình tiết “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Đà Nẵng.
[3] Xét tính chất vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy:
Tội phạm mà bị cáo đã gây ra xâm phạm tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật. Nhưng vì lòng tham, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân mà không phải bỏ sức lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần có mức hình phạt thật nghiêm minh đối với bị cáo để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử sẽ đánh giá, xem xét khi lượng hình.
- Về nhân thân: Bị cáo có tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngoài ra bị cáo có nhân thân không tốt, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; “Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác”; “Ném gạch đá vào nhà người khác”. Những tình tiết này, Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt,
[5] Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.
[6] Về loại hình phạt áp dụng: Hành vi của các bị cáo là cố ý, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương, do đó Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 224.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc xử lý vật chứng là có căn cứ nên chấp nhận:
[10] Về các vấn đề khác có liên quan:
- Ông Huỳnh Phước T khai bị Nguyễn Văn S chiếm đoạt 20 tờ vé số kiến thiết thành phố H và 02 tờ V, tuy nhiên S chỉ thừa nhận đối với 13 tờ vé số kiến thiết thành phố H, 01 tờ V, phù hợp với việc thu giữ tài liệu, đồ vật trong quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của S. Đối với 07 tờ vé số kiến thiết thành phố H và 01 tờ V còn lại, chưa đủ căn cứ để xác định Nguyễn Văn S chiếm đoạt. Mặt khác, gia đình bị cáo Nguyễn Văn S đã bồi thường toàn bộ giá trị của 20 tờ vé số kiến thiết và 02 tờ V cho ông Huỳnh Phước T. Ông T cũng không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- Quá trình giữ không cho S điều khiển xe tẩu thoát, ông Huỳnh Phước T bị xây xát nhẹ vùng vai, cánh tay, ông T không có yêu cầu gì nên không đề cập đến.
[11] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, các điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. (sửa đổi bổ sung theo Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 03( ba ) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/4/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025. Tuyên:
- Lưu kèm hồ sơ vụ án: 13 tờ vé số kiến thiết Huế ; 01 tờ vé số Vietlott số A: 13 22 30 35 42 51; 01 USB màu đen 16GB hiệu “hoco” và 04 Dĩa DVD hỏi cung bị cáo.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu trắng, mặt trước có in dòng chữ lớn "HIDDLE", mặt sau không in gì; 01 lưỡi trai màu xám, mặt trước có in dòng chữ "NEW YORK 92".
- Tịch thu, sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Sirius màu xám đen BKS 92D1-831.44; Số máy: E32VE384778, Số khung: RLCUE3740MY104368.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54 màu xanh, gắn sim số 0763612532, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 10 - Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2025).
3. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (21/11/2025). Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nhạn |
Bản án số 100/2025/HS.ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 100/2025/HS.ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
