|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 6 – 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiệu Văn Kết Em.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Bé;
- Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thuỷ – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 183/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2025/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thùy D, sinh năm 1993; nơi cư trú: 4 S, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Ông Đặng Vũ Việt L, sinh năm 1989; nơi cư trú: 9 N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; tạm trú: Căn hộ A19.13, chung cư H, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thùy D trình bày:
Bà Trần Thùy D và ông Đặng Vũ Việt L tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn quyển số 83, ngày 22/12/2021.
Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông L bỏ nhà đi không lý do, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông L thường xuyên chửi mắn, thậm chí bóp cổ, đánh đập bà D, đập phá đồ đạc trong nhà, bà D chịu đựng nhiều lần, nhường nhịn để cố gắng vun vén hạnh phúc gia đình nhưng ông L không thay đổi, mà tiếp tục có những hành vi bạo lực, mắn chửi bà D.
Tháng 3/2024, ông L tự ý chuyển đi nơi khác sinh sống mặc dù bà D đã liên lạc nhiều lần nhưng ông L cố tình trốn tránh, chặn số liên lạc, từ đó vợ chồng không còn chung sống với nhau.
Hiện nay, nhận thấy cuộc sống hôn nhân vợ chồng không hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông L.
Về con chung: Quá trình chung sống bà D và ông L không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo ý kiến, yêu cầu của mình, nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ: CCCD (bản sao chứng thực); Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Giấy xác nhận thông tin cư trú (bản sao).
* Đối với bị đơn ông Đặng Vũ Việt L: Ông L đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông L không đến Tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 72, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.
Về mặt nội dung: căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Mâu thuẫn giữa bà D và ông L đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Về con chung; Không có. Về tài sản chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Trần Thùy D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Đặng Vũ Việt L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà D và ông L tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn quyển số 83, ngày 22/12/2021 là đúng quy định về đăng ký kết hôn của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Bà D xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do ông L bỏ nhà đi không lý do, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông L thường xuyên chửi mắn, thậm chí bóp cổ, đánh đập bà D, đập phá đồ đạc trong nhà, bà D chịu đựng nhiều lần, nhường nhịn để cố gắng vun vén hạnh phúc gia đình nhưng ông L không thay đổi, mà tiếp tục có những hành vi bạo lực, mắn chửi bà D. Do đó, bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L.
Xét thấy, trong hôn nhân vợ chồng phải yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau về mọi mặt để xây dựng hạnh phúc gia đình. Mặc dù trong cuộc sống vợ chồng không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, xung đột nhưng vợ chồng phải tìm cách giải quyết, hàn gắn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho ông L về nội dung yêu cầu của bà D, các thông báo và triệu tập để hòa giải, giải quyết vụ án nhưng ông L vẫn không đến Tòa án làm việc và cũng không có bất kỳ ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của bà D, chứng tỏ ông L không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn giữa bà D và ông L đã đến mức trầm trọng, không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà D yêu cầu được ly hôn với ông L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Không có.
[4] Tài sản chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà D phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thùy D đối với bị đơn ông Đặng Vũ Việt L về việc ly hôn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thùy D được ly hôn với ông Đặng Vũ Việt L.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn quyển số 83 ngày 22/12/2021 do Ủy ban nhân dân phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thùy D và ông Trần Văn P không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thùy D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001069 ngày 28/3/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiệu Văn Kết Em |
Bản án số 100/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 100/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dung - Linh
