|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2025
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Sơn
Ông Ngô Phúc
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ T, sinh ngày 20-10-1983 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. -
Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh ngày 12-12-1984 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, tờ tự khai ngày 03-02-2025 và Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 12-3-2025, nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T trình bày:
+Về hôn nhân: Bà và ông Lê Văn N kết hôn vào năm 2009, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND, xã V, huyện C, tỉnh An Giang số 155 Quyển số I, ngày 07-11-2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân đã nhiều năm. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông N, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với ông Lê Văn N.
+Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Thị Yến N1, sinh ngày 13-6-2008, hiện bà đang nuôi con. Khi ly hôn tùy vào nguyện vọng của con nếu con muốn sống với mẹ thì bà đồng ý nuôi.
+Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
+Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Lê Văn N, nhưng ông N vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 09-4-2025, cháu Lê Thị Yến N1 trình bày: Cháu biết việc ba mẹ cháu ly hôn, vì thực tế ba mẹ cháu đã không còn sống chung nhiều năm. Cháu đề nghị sau khi ba mẹ cháu ly hôn cháu được sống chung với mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà T, bị đơn ông N, Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa; nguyên đơn bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông N vắng mặt lần 2 không có lý do. Căn cứ Điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
[2] Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ T và ông Lê Văn N kết hôn vào năm 2009, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND, xã V, huyện C, tỉnh An Giang số 155 Quyển số I, ngày 07-11-2009 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Bà T có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hàn gắn lại tình cảm giữa bà T và ông N, nhưng ông N nhiều lần vắng mặt không tham gia hòa giải. Do đó, Tòa án không hòa giải được.
Xét thấy: Quá trình chung sống giữa bà T và ông N phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân đã nhiều năm. Quá trình tố tụng Tòa án tạo điều kiện cho bà T và ông N hàn gắn lại tình cảm nhưng ông N đều không tham gia. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà T được ly hôn với ông N là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Bà T và ông N có 01 con chung, hiện bà T đang nuôi con. Khi ly hôn ông N không có ý kiến gì về việc nuôi con.
Xét thấy cháu N1 đã trên 17 tuổi, cháu có nguyện vọng sống với bà T. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giao bà T được tiếp tục nuôi con.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T trình bày tự thỏa thuận, ông N không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nguyên đơn bà T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008118 ngày 05-3-2025 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; nguyên đơn bà T, bị đơn ông N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2, 3 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,
Xử:
- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ T được ly hôn với ông Lê Văn N.
-
Về con chung: Bà Lê Thị Mỹ T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị Yến N1, sinh ngày 13-6-2008
Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con được thực hiện theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008118 ngày 05-3-2025 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T, bị đơn ông Lê Văn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |
Bản án số 100/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 100/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Lê Thị Mỹ Thanh với ông Lê Văn Nếp
