Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 100/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28/5/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Nhanh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Hoàn;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Hải Ân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/QĐĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bé M, sinh năm 1985, (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1977, (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Tạm trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ghi ngày 06/02/2025, trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Bé M trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn H xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Thời gian đầu, anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi, anh H không chăm lo đến vợ con. Chị và anh H đã sống ly thân nhau từ năm 2023 đến nay không hàn gắn được tình cảm. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thành P, sinh ngày 10/12/2006; Nguyễn Phúc T, sinh ngày 15/11/2015 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 15/11/2015. Khi ly hôn chị M yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Phúc T và Nguyễn Phúc T1, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Nguyễn Thành P đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc không thể tham gia phiên tòa nên chị M có đơn xin được vắng mặt trong quá trình xét xử.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, đơn khởi kiện, bản tự khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị M có đơn yêu cầu ly hôn với anh H, bị đơn anh H hiện tạm trú tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh H vắng mặt lần thứ 2 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; đồng thời chị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị M là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, bởi lẽ:

3.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 061 vào ngày 18/7/2005, được xem là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của chị M thì sau khi kết hôn, chị và anh H chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2023 anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau và sống ly thân từ năm 2023 đến nay vẫn không hàn gắn được tình cảm, anh chị không còn quan tâm cuộc sống của nhau nữa, chứng tỏ giữa chị M và anh H đã không còn tình cảm vợ chồng, việc kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai.

Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.....”. Do đó, việc chị M và anh H xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân nhau trong thời gian dài, cho thấy hôn nhân giữa hai người lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh H, mở phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn cho các bên nhưng anh H vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về việc ly hôn, từ đó cho thấy anh H không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị M. Do đó, chị M yêu cầu xin ly hôn với anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2. Về con chung: Chị M và anh H có 03 con chung tên Nguyễn Thành P, sinh ngày 10/12/2006; Nguyễn Phúc T, sinh ngày 15/11/2015 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 15/11/2015. Xét thấy, cháu Phát hiện đã thành niên nên chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu T và cháu T1 hiện đang sống với chị M, cuộc sống sinh hoạt đã ổn định. Tại bản tự khai của cháu T và cháu T1 đều có nguyện vọng sống với chị M khi chị M và anh H ly hôn. Đồng thời, anh H cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu nuôi 02 con chung của chị M. Vì vậy, chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và cháu T1 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

3.3. Về cấp dưỡng: Chị M chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bé M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Bé M được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Phúc T, sinh ngày 15/11/2015 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 15/11/2015 cho chị Lê Thị Bé M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Văn H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

  1. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Lê Thị Bé M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002963 ngày 27/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên chị M đã nộp xong án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - UBND xã T, H. C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Mỹ Nhanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 100/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bé M. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Bé M được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. 2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Phúc T, sinh ngày 15/11/2015 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 15/11/2015 cho chị Lê Thị Bé M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger