|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:100/2025/HNGĐ -ST Ngày: 09 tháng 12 năm 2025 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Bản và ông Nguyễn Huy Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Không tham gia
Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 189/2025/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc: Ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2025/QĐXX-ST ngày 26 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T – Sinh ngày: 06/06/2002.
- Hộ chiếu số: P00753896; số CCCD: [...]
- Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã Y, tỉnh Thanh Hóa
- Địa chỉ hiện tại: Số C, Khu E, phường H, Thành phố D, tỉnh Osaka, Nhật Bản. ( vắng mặt có lý do )
- Bị đơn: Anh Hà Văn B – Sinh ngày: 07/05/1998.
- Hộ chiếu số: C7292754. Số CCCD:[...]
- Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn K, xã T, tỉnh Thanh Hóa
- Địa chỉ hiện tại: Số A, Khu G, phường F, thị xã H, Thành phố K, tỉnh Hyogo, Nhật Bản. ( vắng mặt có lý do )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 08 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị T trình bày:
- Về Hôn nhân: Tôi và anh Hà Văn B kết hôn với nhau ngày 06 tháng 01 năm 2023 tại UBND Xã Y, Huyện N, Tỉnh Thanh Hóa (nay là Xã Y, Tỉnh Thanh Hóa). Sau khi kết hôn chúng tôi có cuộc sống hòa thuận, hạnh phúc. Cuối tháng 02/2023, tôi sang Nhật bản sinh sống và làm việc theo diện xuất khẩu lao động. Đến năm 2024, vợ chồng tôi có thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi với nhau, khiến tình cảm không còn như trước. Nguyên nhân là do chúng tôi có những khác biệt về quan niệm, lối sống và tính cách không hòa hợp nên không tìm được tiếng nói chung để duy trì cuộc sống hôn nhân. Sau nhiều lần hàn gắn tình cảm thì cuộc sống của chúng tôi không có nhiều tiến triển tốt. Kể từ thời điểm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, chúng tôi sống ly thân mỗi người một nơi và không còn tình cảm với nhau.
Tôi nhận thấy chúng tôi đã không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc, vun đắp cho gia đình, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc. Tôi biết không chỉ riêng tôi mà cả chồng tôi cũng đã mệt mỏi. Đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài, níu kéo cũng chỉ đem lại đau khổ và tổn thương cho hai bên. Vì vậy, tôi kính mong Quý Toà xem xét giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Hà Văn B.
- Về con chung: Chúng tôi không có con chung, nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, công nợ: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết, anh Hà Văn B là bị đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Tôi và chị Lê Thị Thanh kết H với nhau ngày 06 tháng 01 năm 2023 tại UBND Xã Y, Huyện N, Tỉnh Thanh Hóa (nay là Xã Y, Tinh T). Sau khi kết hôn chúng tôi có cuộc sống hòa thuận. Cuối tháng 02/2023, chị T sang Nhật Bản làm việc theo diện xuất khẩu lao động. Thời gian sau, tôi cũng sang Nhật Bản làm việc theo diện xuất khẩu lao động. Sau khi đi nước ngoài, vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi với nhau, khiến tình cảm không còn như trước. Nguyên nhân là do chúng tôi có những khác biệt về quan niệm, lối sống và tính cách không hoà hợp. Sau nhiều lần hàn gắn tình cảm thì cuộc sống của chúng tôi vẫn không có nhiều tiến triển tốt, không thể tìm được biện pháp hay tiếng nói chung để tiếp tục duy trì cuộc sống. Kể từ thời điểm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, chúng tôi sống ly thân mỗi người một nơi và không còn tình cảm với nhau.
Tôi nhận thấy chúng tôi đã không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc, vun đắp cho gia đình, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc. Tôi biết không chỉ riêng tôi mà cả vợ tôi cũng đã mệt mỏi. Đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài, níu kéo cũng chỉ đem lại đau khổ và tổn thương cho hai bên. Vì vậy, tôi kính mong Quý Tòa xem xét giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Lê Thị T.
- Về con chung: Chúng tôi không có con chung, nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản và công nợ: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Thanh khởi K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Hà Văn B. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Lê Thị T và anh Hà Văn B vắng mặt tại phiên tòa, cả chị T và anh B đều có đơn đề nghị xử vắng mặt tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Hà Văn B là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra to tiếng, cãi vã lẫn nhau. Cả chị T và anh B đều thừa nhận hiện tại anh chị đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2024 đến nay, ai lo bổn phận người ấy. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T được ly hôn đối với anh Hà Văn B.
[4] Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Hà Văn B không có con chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản: Chị T và Anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết . Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án, buộc chị Lê Thị Thanh P chịu 300.000đ tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 15, Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T về việc:
- - Về Hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Hà Văn B.
- - Về Con chung: Chị T và anh B không có con chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
- - Về Tài sản: Chị T và anh B không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị Thanh P chịu 300.000 đồng tiền án dân sự sơ thẩm; Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, theo biên lai thu tiền số: 0001614 ngày 15 tháng 10 năm 2025.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị T và anh Hà Văn B được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bắc |
Bản án số 100/2025/HNGĐ -ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 100/2025/HNGĐ -ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị Th xin ly hôn anh Hà Văn B do mâu thuẫn gia đình
