Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 06 – 06 – 2025

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Hữu Tấn
  2. Ông Trần Thanh Việt.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 614/2024/TLST–HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 10/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 240/2025/QĐST – HNGĐ ngày 09/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh N, sinh năm 1978
  2. Địa chỉ: Số B, khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: Ông Huỳnh Phú Q, sinh năm 1977
  4. Địa chỉ: Số B, khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị Thanh N vắng mặt (có đơn đề nghị được vắng mặt); ông Huỳnh Phú Q vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 11/11/2024, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị Thanh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Phú Q tự tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 02/4/2004 tại UBND phường M. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Q thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc, gây nợ nhiều lần, không chăm lo cho gia đình, nhiều lần đánh bà và các con. Ngoài ra, quá trình chung sống, ông Q có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Bà vì các con nên cố gắng dung hòa nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn trong hôn nhân đã kéo dài, tình cảm dành cho ông Q không còn nên bà N yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Bà N và ông Q có 03 con chung tên là Huỳnh Thị Kim N1 sinh ngày 21/01/2004, Huỳnh Thị Kim N2 sinh ngày 02/12/2005 và Huỳnh Thị Kim S, sinh ngày 28/10/2013. Do 02 cháu Huỳnh Thị Kim N1 và Huỳnh Thị Kim N2 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà N không yêu giải quyết về con chung. Sau khi ly hôn bà N yêu câu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Huỳnh Thị Kim S.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Q vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS).

Về nội dung: Nhận thấy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Q đã trầm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N. Về con chung, nhận thấy cháu S đang được bà N nuôi dưỡng và cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà N. Do ông Q không có ý kiến tài sản chung, nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Tranh chấp giữa bà Lê Thị Thanh N và ông Huỳnh Phú Q là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường M, thành phố L. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.

[2] Xét thấy, qua kết quả xác minh tình trạng cư trú ngày 14/4/2025 thể hiện ông Q đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số B, khóm A, phường M. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định ông Q có nơi cư trú hợp pháp là địa chỉ trên. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và 179 của BLTTDS. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, ông Q tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Phía bà N có Đơn đề nghị được vắng mặt khi xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh N và ông Huỳnh Phú Q tự nguyện tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân phường M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 02/4/2004 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[4] Bà N cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân vợ chồng không có tiếng nói chung, ông Q không chung thủy, thường xuyên cờ bạc, rượu chè. Phía ông Q được Tòa án nhiều lần triệu tập, tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, ông Q vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của bà N3, không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa. Như vậy, ông Q đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của BLTTDS và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình. Từ đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, bà N và ông Q không còn quan tâm lẫn nhau. Xét thấy, do mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà N được ly hôn ông Q.

[5] Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh số 116/TP.MT ngày 05/4/2004, Trích lục khai sinh số 538/TLKS-BS ngày 19/12/2019 và bản sao Giấy khai sinh số 490/2013 ngày 28/11/2013 của Ủy ban nhân dân phường M cấp, là đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định bà N và ông Q có 03 con chung gồm Huỳnh Thị Kim N1 sinh năm 2004 và Huỳnh Thị Kim N2 sinh năm 2005 đã trưởng thành và có khả năng lao động; Huỳnh Thị Kim S, sinh ngày 28/10/2013. Xét thấy, cháu S chưa thành niên đang được bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà N.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà N không yêu cầu nên ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến của ông Q về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Sau này, các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

[8] Về án phí: Bà N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà N đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002347 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • - Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Thanh N, được ly hôn với ông Huỳnh Phú Q.
  2. [2] Về con chung: Ông, bà có 03 (ba) con chung tên Huỳnh Thị Kim N1 sinh năm 2004 và Huỳnh Thị Kim N2 sinh năm 2005 đã trưởng thành và có khả năng lao động; Huỳnh Thị Kim S sinh ngày 28/10/2013.

    Giao cháu Huỳnh Thị Kim S cho bà Lê Thị Thanh N được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

  3. [3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu.

    (Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có quyền thoả thuận cấp dưỡng, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.)

  4. [4] Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  5. [5] Về án phí: Bà N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà N đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002347 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  6. [6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh AG;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Mỹ Thới
  • (GCNKH số 64 ngày 02/4/2004);
  • - Lưu VT và hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TRẦN PHẠM XUÂN KHANH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2025/HNGĐ – ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 100/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger