Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - CẦN THƠ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:100/2025/DS-ST
Ngày: 07-11-2025
“Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Sa Pha
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Châu
Ông Nguyễn PhướcO
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Ngọc – Thư ký viên, Tòa án nhân dân Khu vực 5-Cần Thơ, Thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Cần Thơ, Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5-Cần Thơ, Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 83/2025/TLST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2025; Về việc: “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 9 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH X. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, Thành phố Cần Thơ.
+ Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Ông Trần Văn N, sinh năm 1964. Địa chỉ: 5.7 C, số D, đường N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
  2. Ông Hồ Vũ L, sinh năm 1975. Địa chỉ liên hệ: Số E, đường C, Khu đô thị V, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

- Bị đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Á, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số A, đường D, khóm H, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Nay là số 175/13/14, đường D, khu V, phường P, Thành phố Cần Thơ).
  2. Bà Quách Mỹ P, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số H, đường N, khóm F, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Nay là số H, đường N, khu V, phường P, Thành phố Cần Thơ).

+ Người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số F, đường L, khu V, phường P, Thành phố Cần Thơ. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 6 năm 2025 của nguyên đơn Công ty TNHH X, trong quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Văn N trình bày ý kiến:

Ngày 08/4/2025, Công ty TNHH X (sau đây gọi tắt là Công ty X – Bên A) có ký Hợp đồng khoán việc với bà Nguyễn Thị Mỹ Á và bà Quách Mỹ P (sau đây gọi tắt là Bên B) để Công ty xăng dầu thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản hoa màu trên đất, đối với 03 thửa đất sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 48615 vào sổ cấp GCN:CS 00677 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 20/8/2018: diện tích 713,9m², thửa đất số 445, tờ bản đồ số 22, tại địa chỉ: Khóm C, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 650416 vào sổ cấp GCN:CS 00825 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 19/01/2019: diện tích 10.364.3m², thửa đất số 39, tờ bản đồ số 21, tại địa chỉ: Khóm C, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 650415 vào sổ cấp GCN:CS00815 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 15/01/2019: diện tích 6.226.7m², thửa đất số 37, tờ bản đồ số 21, tại địa chỉ: Khóm C, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Theo mục 1.1 của Hợp đồng khoán việc thì Bên B có trách nhiệm liên hệ với bên tổ chức Thẩm định giá tài sản với kết quả đảm bảo sát với giá thị trường tối thiểu là 42.000.000.000 (bốn mươi hai tỷ) đồng. Giá trị Thẩm định giá này phải được Ngân hàng M1 chấp nhận giải ngân tối thiểu là 60% giá trị thẩm định, tương đương 25.200.000.000 đồng (hai mươi lăm tỷ hai trăm triệu đồng).

Theo mục 1.2 của Hợp đồng khoán việc thì Bên B chủ động liên hệ với chủ đất về việc chuyển nhượng 03 lô đất nói trên, với kết quả như sau:

Thỏa thuận để Bên A nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản hoa màu trên 03 thửa đất trên với giá trị tối đa là 17.000.000.000 (Mười bảy tỷ) đồng.

Thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng: Ngay sau khi ký bên Ngân hàng M2 thông báo chấp nhận giải ngân cho 03 tài sản trên tối thiểu là 25.200.000.000 (Hai mươi lăm tỷ hai trăm triệu) đồng.

Người nhận chuyển nhượng và nhận vay của Ngân hàng M1 do Bên A chỉ định.

Thời gian thực hiện Hợp đồng khoán việc: Từ ngày 08/4 đến 25/4/2025 (theo Điều 2 của Hợp đồng).

Giá trị thực hiện hợp đồng khoán việc xong là bên A trả cho bên B: 1.000.000.000 đồng. Ngay sau khi ký hợp đồng khoán việc, Công ty X đã giao 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng tiền đặt cọc cho Bên B. Tuy nhiên, sau khi nhận số tiền trên cho đến nay Bên B không thực hiện các công việc theo Điều 1 của Hợp đồng, mà không có ý kiến hay bất cứ lý do nào phản hồi cho Công ty X.

Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 5-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xem xét, giải quyết các vấn đề sau:

Hủy Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025, giữa Công ty TNHH X với bà Nguyễn Thị Mỹ Á và bà Quách Mỹ P đã ký.

Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ Á và bà Quách Mỹ P phải trả cho Công ty TNHH X số tiền đặt cọc đã nhận 200.000.000 đồng và bồi thường gấp đôi tiền cọc do vi phạm hợp đồng là 200.000.000 đồng, theo Điều 5 của hợp đồng. Tổng cộng số tiền là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).

* Theo Đơn phản tố ngày 28/8/2025 của bị đơn bà Nguyễn Thị Ái M, bà Quách Mỹ P, trong quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu T trình bày ý kiến:

Sau khi hai bên thỏa thuận, ký kết Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 nêu trên thì bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á và bà Quách Mỹ P đã liên hệ với chủ 03 thửa đất nêu trên để thương lượng giá mua và xin được thẩm định giá trị đất để vay vốn Ngân hàng lấy tiền mua đất. Tuy nhiên, sau khi thẩm định 03 thửa đất này thì giá trị thực tế của 03 thửa đất không cao (Giá trị không được 17 tỷ đồng), nên nội dung thỏa thuận của Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 là trái pháp luật, vì phía Công ty yêu cầu các bị đơn bà Á, bà P phải nâng khống giá thẩm định 03 thửa đất tối thiểu phải là 42 tỷ đồng để làm thủ tục vay vốn Ngân hàng số tiền 25 tỷ 200 triệu đồng. Do đó, nếu các bị đơn bà Á, bà P thực hiện các công việc theo nội dung thỏa thuận của Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 sẽ vi phạm pháp luật, có thể bị khởi tố hình sự, nên các bị đơn bà Á, bà P trao đổi với người đại diện của Công ty X để dừng việc thực hiện hợp đồng và trả lại số tiền 200 triệu đồng cho Công ty nhưng phía Công ty không đồng ý nhận lại số tiền 200 triệu đồng mà yêu cầu trả 400 triệu đồng, cho rằng các bị đơn vi phạm hợp đồng. Với các lý do trên, các bị đơn có yêu cầu phản tố, yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết: Tuyên bố Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025, giữa Công ty TNHH X với bà Nguyễn Thị Mỹ Á và bà Quách Mỹ P ký kết vô hiệu theo quy định các Điều 122, 123, 127 Bộ luật dân sự và bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P đồng ý trả lại cho Công ty TNHH X số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Các đương sự đã thực hiện đầy đủ, quyền và nghĩa vụ của mình, cũng như chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và cũng như giấy triệu tập của Tòa án.Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của các bị đơn bà Á, bà P, tuyên bố Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 vô hiệu do vi phạm các điều cấm của luật, buộc bị đơn bà Á, bà P trả lại số tiền đặt cọc đã nhận 200.000.000 đồng cho Công ty TNHH X. Đồng thời, không chấp nhận yêu cầu bồi thường hợp đồng (phạt cọc) số tiền 200.000.000 đồng của nguyên đơn Công ty TNHH X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty TNHH X khởi kiện các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P trả lại số tiền đặt cọc và bồi thường hợp đồng (phạt cọc) theo Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 hai bên đã thỏa thuận, ký kết. Do đó, quan hệ phát sinh tranh chấp được xác định là tranh chấp hợp đồng dân sự, cụ thể là tranh chấp Hợp đồng đặt cọc theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự và các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P có địa chỉ cư trú tại phường P, thành phố Cần Thơ, nên phía nguyên đơn đã lựa chọn Tòa án nhân dân khu vực 5-Cần Thơ, Thành phố Cần Thơ giải quyết vụ kiện tranh chấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng thẩm quyền giải quyết vụ án.

  2. Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: Do các đương sự không đặt ra yêu cầu xem xét về thời hiệu khởi kiện, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  3. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu hủy Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025, thì thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa nguyên đơn có yêu cầu hủy Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 mà giữa hai bên đã thỏa thuận, ký kết. Còn phía bị đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 vô hiệu, đồng ý trả lại số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng đã nhận cho nguyên đơn. Ngoài ra, thời gian thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận tại Điều 2 của Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 là 18 ngày (kể từ ngày 08/4/2025 đến ngày 25/4/2025), cho đến khi hai bên phát sinh tranh chấp và khởi kiện thì thời gian thực hiện hợp đồng đã hết và hai bên cũng đồng ý hủy hoặc tuyên vô hiệu hợp đồng khoán việc này. Xét thấy, yêu cầu của các đương sự về việc hủy hoặc tuyên bố Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 vô hiệu đều hướng đến chấm dứt thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận. Do đó, nguyên đơn Công ty TNHH X yêu cầu các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P trả lại số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng và các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P cũng đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng đặt cọc đã nhận là tình tiết sự thật, không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn Công ty TNHH X là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

    2. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P trả lại số tiền đặt cọc và bồi thường tiền cọc do vi phạm hợp đồng, thì thấy: Như đã nhận định tại mục [3.1] nêu trên, yêu cầu khởi kiện đòi lại tiền đặt cọc 200.000.000 đồng của nguyên đơn Công ty TNHH X đối với các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

      Xét yêu cầu bồi thường tiền cọc do vi phạm hợp đồng (phạt cọc): Xét thấy, theo nội dung thỏa thuận của Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 mà giữa hai bên thỏa thuận, ký kết về các công việc bị đơn bà Á, bà P phải thực hiện như thỏa thuận với chủ đất thương lượng về giá đất để nhận chuyển nhượng cho Công ty TNHH X tối đa không được quá 17 tỷ đồng, liên hệ với tổ chức thẩm định giá 03 thửa đất nêu trên phải có Chứng thư có giá trị tối thiểu là 42 tỷ đồng, để làm thủ tục vay Ngân hàng M2 được số tiền 25 tỷ 200 triệu đồng là các thỏa thuận trái pháp luật, như nâng khống giá trị thực tài sản để thế chấp và câu kết với cán bộ Ngân hàng để vay vốn nhằm chiếm đoạt tiền của Ngân hàng, dẫn đến hậu quả pháp lý vi phạm pháp luật hình sự nếu các bị đơn bà Á, bà P thực hiện theo nội dung thỏa thuận của Hợp đồng khoán việc hai bên đã ký. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hồ Vũ L cũng thừa nhận các bị đơn bà Á, bà P có liên hệ chủ 03 thửa đất nêu trên để thỏa thuận chuyển nhượng, cũng như yêu cầu tổ chức thẩm định giá 03 thửa đất, nhưng để làm thủ tục vay Ngân hàng khác, không phải là ngân hàng M2 là không đúng như nội dung thỏa thuận của Hợp đồng khoán việc hai bên đã ký, cũng như các bị đơn thực hiện các công việc nêu trên không đúng thời hạn theo thỏa thuận của hợp đồng, nhưng cố tình kéo dài thời gian không trả lại tiền đặt cọc đã nhận. Tuy nhiên, xét nội dung thỏa thuận khoán việc tại Điều 1 của Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 được ký kết giữa Công ty TNHH X với bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P thì thấy, đã vi phạm điều cấm của luật, dẫn đến giao dịch vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Bộ luật dân sự. Trong trường hợp này hai bên thỏa thuận, ký kết Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 cùng có lỗi, nhưng chưa gây ra thiệt hại nên không phải bồi thường cho nhau hoặc không phải chịu phạt cọc theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện bồi thường tiền cọc do vi phạm hợp đồng (phạt cọc) của nguyên đơn đối với bị đơn bà Á, bà P là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  4. Xét yêu cầu phản tố của các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P, thì thấy: Như đã nhận định tại mục [3] nêu trên, Hội đồng xét xử xác định Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 được ký kết giữa Công ty TNHH X với bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, nên yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

    1. Nguyên đơn Công ty TNHH X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, tương ứng với số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch phải chịu là 10.000.000 đồng.

    2. Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, tương ứng với số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch phải chịu là 10.000.000 đồng.

  6. Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa về việc chấp hành pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và quan điểm về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận như đã nhận định phân tích nêu trên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

- Căn cứ các Điều 117; Điều 122; Điều 123; Điều 131; Điều 328; Điều 407; Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH X đối với các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P, về việc tranh chấp Hợp đồng đặt cọc.

    1. Tuyên bố Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 được ký kết giữa Công ty TNHH X với bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P vô hiệu từ thời điểm xác lập.

    2. Buộc các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn Công ty TNHH X số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

      Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn Công ty TNHH X có đơn yêu cầu thi hành án, nếu các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P chậm thanh toán số tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm tiền lãi suất chậm thanh toán cho nguyên đơn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

    3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH X đối với các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P, về việc yêu cầu bồi thường tiền cọc do vi phạm hợp đồng (phạt cọc).

  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P đối với nguyên đơn Công ty TNHH X.

    Tuyên bố Hợp đồng khoán việc ngày 08/4/2025 được ký kết giữa Công ty TNHH X với bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P vô hiệu từ thời điểm xác lập.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    1. Buộc nguyên đơn Công ty TNHH X có nghĩa vụ phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 10.000.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.300.000 đồng theo biên lai thu số 0000439 ngày 15 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ. Còn lại số tiền 300.000 đồng, Công ty TNHH X được hoàn trả lại.

    2. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P có nghĩa vụ phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 10.000.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng theo các biên lai thu số 0002852 và 0002853 cùng ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ. Còn lại số tiền 9.400.000 đồng các bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Á, bà Quách Mỹ P có nghĩa vụ tiếp tục phải nộp theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND KV5-Cần Thơ;
  • - Phòng THADS KV 5-Cần Thơ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Kim Sa Pha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2025/DS-ST ngày 07/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 100/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc giữa Công ty Xăng dầu X với bà A, bà P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger