|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2025/DS-PT
Ngày: 30/6/2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị An
Các Thẩm phán: Ông Dương Văn Bản và bà Nguyễn Thị Thuỷ
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lương Dương Tùng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 72/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hà Văn H, sinh năm: 1970;
- Bị đơn: Ông Trần Thái T, sinh năm: 1966;
Địa chỉ: Tổ dân phố C P, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Hà Văn H trình bày:
Do có quan hệ quen biết nên trong năm 2020 ông H đã nhiều lần cho ông Trần Thái T vay tiền. Cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 03/4 (nhuận)/2020 âm lịch (tức là ngày 25/5/2020 dương lịch), ông T vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng);
Lần 2: Ngày 07/4 (nhuận)/2020 âm lịch (tức là ngày 29/5/2020 dương lịch), ông T 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng);
Lần 3: Ngày 28/5/2020 âm lịch (tức là ngày 18/7/2020 dương lịch), ông T vay 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng);
Lần 4: Ngày 30/5/2020 âm lịch (tức là ngày 20/7/2020 dương lịch), ông T vay 10.000.000đ (mười triệu đồng);
Lần 5: Ngày 28/8/2020 âm lịch (tức là ngày 14/10/2020 dương lịch), ông T vay 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng);
Lần 6: Ngày 13/9/2020 âm lịch (tức là ngày 29/10/2020 dương lịch), ông T vay 70.000.000đ (bẩy mươi triệu đồng);
Lần 7: Ngày 14/9/2020 âm lịch (tức là ngày 30/10/2020 dương lịch), ông T vay 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng);
Lần 8: Ngày 17/9/2020 âm lịch (tức là ngày 02/11/2020 dương lịch), ông T vay 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng);
Lần 9: Ngày 25/9/2020 âm lịch (tức là ngày 10/11/2020 dương lịch), ông T vay 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng);
Lần 10: Ngày 29/9/2020 âm lịch (tức là ngày 14/11/2020 dương lịch), ông T vay 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng);
Lần 11: Ngày 04/10/2020 âm lịch (tức là ngày 18/11/2020 dương lịch), ông T vay của ông H 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Lần 12: Ngày 08/10/2020 âm lịch (tức là ngày 22/11/2020 dương lịch), ông T vay 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng);
Tổng số tiền 12 lần ông T đã vay của ông H là 395.000.000đ (ba trăm chín mươi lăm triệu đồng).
Về lãi suất, hai bên thoả thuận bằng miệng lãi suất là 2%/số tiền vay/tháng.
Mỗi lần vay ông T đều tự tay điền thông tin số tiền vay vào các giấy vay nợ mà ông H đã in sẵn và ký xác nhận. Tuy nhiên, trong các giấy vay không ghi rõ thoả thuận về lãi suất và kỳ hạn trả nợ.
Sau khi cho ông T vay tiền, ông H đã nhiều lần yêu cầu ông T trả nợ nhưng ông T vẫn chưa thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh. Do vậy, ngày 28/12/2024 ông H gửi đơn khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên giải quyết buộc ông T phải trả số tiền nợ gốc còn lại là 395.000.000 đồng và lãi phát sinh là 2%/số tiền vay/tháng kể từ thời điểm vay tiền đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ.
Bị đơn ông Trần Thái T trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nhau nên trong năm 2020 ông đã nhiều lần vay tiền của ông Hà Văn H, tổng số tiền ông vay là 600.000.000 đồng. Ông không nhớ cụ thể các lần vay tiền, chỉ nhớ sáu tháng đầu năm 2020 ông đã vay của ông H số tiền 400.000.000 đồng, đến tháng thứ bẩy ông vay thêm 200.000.000 đồng nữa. Ông đã trả được khoảng 200.000.000 đồng tiền nợ gốc, thời gian trả ông không nhớ rõ, chỉ nhớ khoảng năm 2022. Số tiền nợ gốc còn lại là khoảng 400.000.000 đồng. Ông T xác định có thể ông đã trả thêm 5.000.000 đồng nhưng không nhớ. Do vậy, ông T thừa nhận số tiền nợ gốc mà ông chưa trả là 395.000.000 đồng như ông H khởi kiện là đúng.
Về lãi suất, hai bên thoả thuận từ 2.000đ đến 3.000đ/1.000.000đ/ngày.
Mỗi lần vay, ông đều tự điền thông tin và ký xác nhận vào các mẫu giấy biên nhận vay tiền có sẵn do ông H cung cấp. Tuy nhiên, hai bên không lập thành văn bản thoả thuận về lãi suất.
Do dịch bệnh C nên ông không trả nợ đúng hạn theo yêu cầu của ông H được, đề nghị ông H cho ông thời gian thu xếp trả nợ dần đối với khoản nợ nói trên.
Tại biên bản hoà giải thành lập ngày 18/02/2025 tại Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, các đương sự đã thoả thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, ông T có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nợ gốc cho ông H trong 08 kỳ, ngoài ra các bên thoả thuận về lãi suất. Tuy nhiên, ngày 21/02/2025 ông Trần Thái T thay đổi ý kiến, đề nghị Toà án huỷ bỏ kết quả hoà giải thành theo biên bản lập ngày 18/02/2025 và giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Với nội dung nêu trên, bản án sơ thẩm nhận định khoản tiền nợ gốc là có căn cứ, nợ lãi hai bên có phát sinh tranh chấp về mức lãi suất nên áp dụng mức lãi suất 10%/năm theo Điều 468 Bộ luật dân sự.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên đã xét xử và quyết định:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn H:
- Buộc ông Trần Thái T có nghĩa vụ trả cho ông Hà Văn H tổng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày Tòa án tuyên án (13/3/2025) là 580.910.477đ (Năm trăm tám mươi triệu chín trăm mười nghìn bốn trăm bẩy mươi bẩy đồng). Trong đó số tiền nợ gốc là 395.000.000đ (Ba trăm chín mươi lăm triệu đồng); tổng tiền lãi phát sinh từ thời điểm xác lập các hợp đồng vay tiền đến thời điểm Tòa án tuyên án (ngày 13/3/2025) là 185.910.477đ (Một trăm tám mươi lăm triệu chín trăm mười nghìn bốn trăm bẩy mươi bẩy đồng).
- Kể từ ngày 14/3/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 10%/năm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Trần Thái T kháng cáo với nội dung: Đề nghị xác định tổng số tiền gốc ông T vay của ông H là 600 triệu đồng, đã trả 560 triệu đồng, chỉ còn lại 40 triệu đồng nợ gốc và tiền lãi của 40 triệu đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Án phí: Ông T phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bị đơn ông Trần Thái T kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Thái T cho rằng tổng số tiền vay là 600 triệu đồng, ông đã trả 560 triệu đồng, chỉ còn lại 40 triệu đồng nợ gốc và tiền lãi của số tiền này, thấy rằng:
[1]. Về nợ gốc: Theo các giấy biên nhận vay tiền (BL 5 – 17, gồm 12 mã, có chữ viết, chữ ký của ông T) thể hiện tổng số tiền ông T vay ông H từ ngày 03/4/2020 âm lịch đến ngày 08/10/2020 là 395 triệu đồng. Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai và tại Biên bản hoà giải ngày 18/02/2025, ông T thừa nhận số tiền nợ gốc 395 triệu đồng như ông H khởi kiện là đúng, ông không có thắc mắc gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông T kháng cáo cho rằng tổng số tiền ông vay ông H là 600 triệu đồng, ông đã trả được 560 triệu đồng, còn nợ lại 40 triệu đồng nợ gốc. Tại cấp phúc thẩm, ông T không đưa ra được căn cứ gì chứng minh cho nọi dung kháng cáo của mình, phía ông H không thừa nhận số nợ như ông T trình bày. Xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, số tiền nợ gốc 395 triệu là có căn cứ nên kháng cáo của ông T về số nợ gốc là 600 triệu đồng, ông đã trả được 560 triệu đồng, còn nợ lại 40 triệu đồng là không có cơ sở chấp nhận.
[2]. Về thời hạn vay: Theo các giấy tờ vay nợ và theo lời khai của các bên đương sự, có căn cứ xác định các khoản vay của ông T là không có thời hạn, do đó, theo quy định tại Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015 thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn:
1...
2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.
Trong trường hợp này, các đương sự đều xác định trước khi ông H khởi kiện tại Toà án, ông H đã nhiều lần đòi và thông báo cho ông T biết nên ông H có quyền khởi kiện đòi nợ đối với ông T.
[3]. Về tiền lãi: Ông H và ông T đều thừa nhận việc vay nợ là có lãi nhưng không ghi vào giấy vay mà chỉ thoả thuận miệng. Ông H cho rằng hai bên thoả thuận mức lãi suất 2%/số tiền vay/tháng. Ông T cho rằng mức lãi suất được hai bên thoả thuận là 2.000đ -3.000đ/1 triệu/ngày. Như vậy, mức lãi suất mà ông H và ông T trình bày là không phù hợp với nhau và không bên nào đưa ra được căn cứ chứng minh về mức lãi. Tuy nhiên, do cả hai bên cùng thừa nhận vay có lãi nên Toà án cấp sơ thẩm xác định việc vay có lãi là có cơ sở. Mặt khác, do hợp đồng vay không ghi thời hạn nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với phần nợ lãi trong trường hợp này.
Về mức lãi suất, do các bên có tranh chấp, không thống nhất được nên Bản án sơ thẩm áp dụng mức lãi suất 10%/năm theo khoản 2 Điều 468 BLDS là có căn cứ.
Với những phân tích trên đây, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trần Thái T. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4]. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Giữ nguyên như án sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Xét đề nghị của đại diện VKS về việc giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Thái T.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Án phí phúc thẩm: Ông T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001536 ngày 31/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị An |
Bản án số 100/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 100/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Hùng - Trần Thái Thọ - Tranh chấp HĐ vay tài sản
