|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày: 06 - 9 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quốc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Hoàng Sơn.
- Ông Trần Hữu Linh.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Công Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Hà - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
- Lục Thị M, sinh năm 1987, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Công N (đã chết) và con bà Lục Thị S, sinh năm 1958; có chồng: Hoàng Đình T (đã ly hôn); có 02 người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/5/2024 đến ngày 20/5/2024. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lâm Quốc D, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Chị Tôn Nữ Thùy N1, sinh năm:1984. Địa chỉ: Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Anh Nông Văn T1, sinh năm 1994. Địa chỉ Thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Chị Thạch Thị P, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Bà Đinh Thị N2, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện E, tinh Đ (vắng mặt);
- Bà Phan Thị N3, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Chị Thạch Thị É, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Anh Tô Văn D1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Anh Tạ Văn Đ, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Bà Lục Thị B, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Bà Lương Thị C, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Chị Triệu Thị H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
- Người làm chứng: Anh Đinh Văn S1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình sinh sống tại thôn D, xã E, huyện E, Lục Thị M quen biết với Lâm Quốc D, Tôn Nữ Thùy N1, Nông Văn T1, Thạch Thị P, Đinh Thị N2, Phan Thị N3, Thạch Thị É, Tô Văn D1, Tạ Văn Đ, Lục Thị B, Lương Thị C, Triệu Thị H. Do có nhu cầu vay tiền để phục vụ sinh hoạt trong cuộc sống, những người trên đã tìm đến nhà của Lục Thị M để vay tiền, khi đó M nảy sinh ý định cho vay với lãi suất cao để thu lợi, những lần vay đều lập hợp đồng viết tay, có kí nhận giữa các bên, đưa tiền trực tiếp, được thể hiện trong sổ do Lục Thị M lưu giữ. Tại các trang sổ, Lục Thị M kí hiệu “nóng”, “3đ” thể hiện việc tính lãi 3000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Khi đến hạn trả tiền thì người vay sẽ trả tiền trực tiếp cho M, khi trả đủ thì M gạch sổ thể hiện việc trả hết nợ.
Từ ngày 03/6/2019 đến ngày 25/3/2023, Lục Thị M đã sử dụng tổng số tiền 175.000.000 đồng với hình thức vay tiền đứng. Sau khi người vay trả tiền gốc cho M, M lại tiếp tục quay vòng, sử dụng số tiền trên cho người khác vay. Khi cho vay, M thỏa thuận cho vay với lãi suất là 3000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, thu được tổng số tiền lãi là 55.374.000 đồng, trong đó thu lãi bất chính tổng số tiền là 43.559.000 đồng, cụ thể của từng người vay như sau:
1. Lâm Quốc D (Sinh năm 1993; trú tại: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk)
Lần thứ 1: Vào các ngày 02/01/2020, ngày 13/01/2020, ngày 22/01/2020, ngày 26/01/2020, D lần lượt vay của Lục Thị M số tiền 3.000.000 đồng. Tổng cộng 04 lần vay là 12.000.000 đồng, M tính tiền lãi từ ngày 26/01/2020. Đến ngày 13/02/2020, D đã trả cho M số tiền gốc 12.000.000 đồng và 945.000 đồng tiền lãi; M chỉ tính tiền lãi 13 ngày, cho lại D 04 ngày tiền lãi. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (3.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 41 ngày) + (3.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 30 ngày) + (3.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 21 ngày) + (3.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 13 ngày) = 172.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính mà M thu được là 945.000 đồng – 172.000 đồng = 773.000 đồng.
Lần thứ 2: Vào ngày 08/3/2020, D vay M số tiền 25.000.000 đồng, hẹn 05 ngày trả tuy nhiên sau 01 tháng D mới trả tiền gốc và lãi cho M. Đến ngày 08/4/2020 (đủ 30 ngày), D đã trả cho M số tiền 27.250.000 đồng, trong đó 25.000.000 đồng tiền gốc và 2.250.000 đồng tiền lãi. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (25.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 30 ngày = 411.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính mà M thu được của D là 2.250.000 đồng – 411.000 đồng = 1.839.000 đồng.
Lần thứ 3: Vào ngày 30/3/2020, D tiếp tục vay của M số tiền 16.000.000 đồng, hẹn 10 ngày trả tuy nhiên ngày 7/4/2020 D mới trả tiền gốc và lãi cho M. Đến ngày 7/4/2020 (37 ngày), D đã trả cho M số tiền 17.776.000 đồng, trong đó 16.000.000 đồng tiền gốc và 1.776.000 đồng tiền lãi. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (16.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 37 ngày = 324.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính mà M thu được của D là 1.776.000 đồng – 324.000 đồng = 1.452.000 đồng.
Lần thứ 4: Vào ngày 24/6/2020, D vay của M số tiền 10.500.000 đồng. Đến ngày 22/7/2020 (28 ngày), D đã trả cho M số tiền 6.382.000 đồng, trong đó 5.500.000 đồng tiền gốc và 882.000 đồng tiền lãi. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (10.500.000 đồng x 20%): 365 ngày x 28 ngày = 161.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính mà M thu được của D là 882.000 đồng 161.000 đồng = 721.000 đồng. Ngày 23/7/2020, D đã trả số tiền 5.000.000 đồng tiền gốc còn lại nên M không tính thêm lãi.
Lần thứ 5: Vào ngày 05/7/2020, D vay M số tiền 14.000.000 đồng, hẹn 05/8/2020. Vào ngày 19/7/2020, D tiếp tục vay của M số tiền 13.000.000 đồng), hẹn 10 ngày trả. Đến ngày 22/7/2020, D đã trả toàn bộ cho M số tiền 27.831.000 đồng, trong đó 27.000.000 đồng tiền gốc và 831.000 đồng tiền lãi. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (14.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 17 ngày + (13.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 03 ngày = 152.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính mà M thu được của D là 831.000 đồng – 152.000 đồng = 679.000 đồng.
Tổng số tiền lãi Lục Thị M thu được của D là 6.666.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính số tiền 5.464.000 đồng. D đã trả cho Lục Thị M hết số tiền gốc.
2. Tôn Nữ Thùy N1 (sinh năm: 1984, trú tại: Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk)
Vào ngày 25/12/2022, N1 tìm đến nhà của Lục Thị M để vay của M số tiền 19.000.000 đồng, hẹn 25/3/2023 trả. Từ ngày 25/12/2022 đến ngày 25/3/2023 (90 ngày) số tiền lãi N1 phải trả cho M là 5.130.000 đồng, nhưng Lục Thị M chỉ lấy của N1 01 tháng tiền lãi là 1.710.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (19.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 90 ngày = 937.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Lục Thị M thu được là 1.710.000 đồng – 937.000 đồng = 773.000 đồng. N1 còn nợ lại của bị cáo Lục Thị M số tiền gốc 19.000.000 đồng.
3. Nông Văn T1 (sinh năm: 1994, trú tại: Thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk)
Lần thứ 1: Vào ngày 22/3/2020 (ngày 29/02 âm lịch), T1 có công việc gia đình nên đã vay Lục Thị M số tiền 10.000.000 đồng, hẹn 10 ngày trả nhưng đến ngày 26/6/2020 (06/5 âm lịch, 96 ngày) T1 mới trả cho M 12.800.000, trong đó: 10.000.000 tiền gốc và 2.800.000 tiền lãi. Tiền lãi phải thu trong 96 ngày là 2.880.000 đồng, M bớt cho T1 80.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (10.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 96 ngày = 526.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Lục Thị M thu được là 2.800.000 đồng – 526.000 đồng = 2.274.000 đồng.
Lần thứ 2: Vào ngày 6/5/2020, T1 vay của Lục Thị M số tiền 2.000.000 đồng. Ngày 10/5/2020, T1 tiếp tục vay của M số tiền 20.000.000 đồng. Đến ngày 24/6/2020, T1 trả cho M 24.780.000 đồng, trong đó 22.000.000 đồng tiền gốc và 2.780.000 đồng tiền lãi. Tiền lãi phải thu của 2.000.000 đồng là 288.000 đồng (48 ngày) và lãi phải thu của 20.000.000 là 2.640.000 đồng (44 ngày), bớt cho T1 148.000 đồng tiền lãi. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (2.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 48 ngày + (20.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 44 ngày = 534.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Lục Thị M thu được là 2.780.000 đồng – 534.000 đồng 2.246.000 đồng.
Lần thứ 3: Vào ngày 09/05/2021, T1 vay của M số tiền 70.000.000 đồng để thu mua trâu bò thịt, hẹn 10 ngày trả. Ngày 19/5/2021, T1 đã trả cho M số tiền gốc 70.000.000 đồng và 2.100.000 đồng tiền lãi. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (70.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 10 ngày = 384.000 đồng. Số tiền lãi thu lợi bất chính mà bị cáo Lục Thị M thu được là 2.100.000 đồng – 384.000 đồng = 1.716.000 đồng.
Tổng số tiền lãi Lục Thị M thu được của T1 là 7.680.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính tổng số tiền 6.236.000 đồng. T1 đã trả cho Lục Thị M hết số tiền gốc.
4. Thạch Thị P (sinh năm: 1979, trú tại: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk)
Lần thứ 1: Vào ngày 19/02/2020, P vay của Lục Thị M số tiền 60.000.000 đồng, hẹn 10 ngày trả. Tuy nhiên, vay được 05 ngày P trả đủ tiền lãi và tiền gốc cho M. Số tiền lãi của 05 ngày P phải trả là 900.000 đồng, nhưng M chỉ lấy tiền lãi 850.000 đồng bớt cho P 50.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (60.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 05 ngày = 164.000 đồng. Số tiền lãi M thu lợi bất chính của P là 850.000 đồng – 164.000 đồng = 686.000 đồng.
Lần thứ 2: Vào ngày 24/02/2020, P tiếp tục vay của Lục Thị M số tiền 10.000.000 đồng, hẹn 04/3/2020 (09 ngày) trả đủ. Ngày 04/3/2020, P đã trả đủ số tiền gốc và lãi cho M là 10.000.000 đồng tiền gốc và 270.000 đồng tiền lãi. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (10.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 09 ngày = 50.000 đồng. Số tiền lãi bị cáo Lục Thị M thu lợi bất chính của P là 270.000 đồng – 50.000 đồng = 220.000 đồng.
Tổng số tiền lãi bị cáo Lục Thị M thu được của P là 1.120.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính tổng số tiền 906.000 đồng. P đã trả cho Lục Thị M hết số tiền gốc.
5. Đinh Thị N2 (sinh năm: 1974, trú tại: Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk)
Lần thứ 1: Vào ngày 03/6/2019, N2 vay của Lục Thị M số tiền 20.000.000 đồng, hẹn 03/7/2019 (30 ngày) trả đủ. Từ ngày 03/6/2019 đến ngày 03/7/2019 (30 ngày) số tiền lãi N2 phải đóng cho M là 1.800.000 đồng và trả được số tiền gốc 10.000.000 đồng, còn nợ lại 10.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (20.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 30 ngày = 329.000 đồng. Số tiền Lục Thị M thu lợi bất chính của N2 là 1.800.000 đồng – 329.000 đồng = 1.471.000 đồng. Từ ngày 03/7/2019 đến ngày 16/8/2019 (43 ngày) N2 đã trả đủ số tiền lãi 1.290.000 đồng và số tiền gốc 10.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (10.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 43 ngày = 236.000 đồng. Số tiền M thu lợi bất chính của N2 là 1.290.000 đồng – 164.000 đồng = 1.054.000 đồng.
Lần thứ 2: Vào ngày 09/02/2020, N2 vay của M 10.000.000 đồng, hẹn 09/3/2020 trả đủ, tuy nhiên đến ngày 25/4/2020 (76 ngày) N2 mới trả cho M. Từ ngày 09/02/2020 đến ngày 25/4/2020 (76 ngày) số tiền lãi N2 phải đóng cho bị cáo Lục Thị M là 2.280.000 đồng, nhưng M bớt cho N2 1.000.000 đồng tiền lãi, N2 chỉ phải trả cho M tổng số tiền lãi là 1.280.000 đồng và trả luôn số tiền gốc 10.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (10.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 76 ngày = 416.000 đồng. Số tiền M thu lợi bất chính của bà N2 là 1.280.000 đồng – 416.000 đồng =864.000 đồng.
Lần thứ 3: Vào ngày 17/4/2020, N2 tiếp tục vay của M số tiền 20.000.000 đồng, hẹn 17/5/2020 trả đủ. Từ ngày 17/4/2020 đến ngày 17/5/2020 (30 ngày) số tiền lãi bà N2 phải đóng cho bị cáo Lục Thị M là 1.800.000 đồng, trong tháng N2 có vay thêm bị cáo Lục Thị M số tiền 3.000.000 đồng (không tính lãi). Đến ngày 17/05/2020, N2 đã trả đủ cho M số tiền gốc 23.000.000 đồng và 1.800.000 đồng tiền lãi. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (20.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 30 ngày = 329.000 đồng. Số tiền bị cáo Lục Thị M thu lợi bất chính là 1.800.000 đồng – 329.000 đồng = 1.471.000 đồng.
Lần thứ 4: Vào ngày 13/02/2022, N2 có công việc gia đình nên vay M số tiền 87.000.000 đồng, hẹn 13/3/2023 trả đủ. Từ ngày 13/02/2022 đến ngày 13/3/2022 (30 ngày), N2 trả cho bị cáo Lục Thị M số tiền lãi 7.830.000 đồng tiền lãi và còn nợ lại bị cáo Lục Thị M số tiền gốc 87.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (87.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 30 ngày = 1.430.000 đồng. Số tiền bị cáo Lục Thị M thu lợi bất chính của bà N2 là 7.830.000 đồng – 1.430.000 đồng = 6.400.000 đồng.
Tổng số tiền lãi bà N2 đã đóng cho bị cáo Lục Thị M là 14.000.000 đồng trong đó bị cáo Lục Thị M thu lợi bất chính của N2 số tiền là 11.260.000 đồng. N2 còn nợ lại Lục Thị M 87.000.000 đồng tiền nợ gốc.
6. Phan Thị N3 (Sinh năm 1970; trú tại: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk)
Vào ngày 26/01/2020 bà N3 có công việc gia đình nên vay của M số tiền 20.000.000 đồng, hẹn đến ngày 26/02/2020 trả. Tuy nhiên, đến ngày 26/11/2020, N3 mới trả cho M cả tiền gốc và lãi. Từ ngày 26/01/2020 đến ngày 26/11/2020 (300 ngày) số tiền lãi N3 phải đóng cho M là 18.000.000 đồng, nhưng khi trả tiền lãi M bớt cho Niệm 4.400.000 đồng tiền lãi, nên N3 trả cho M tổng số tiền lãi là 13.600.000 đồng và số tiền gốc 20.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (20.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 300 ngày = 3.288.000 đồng. Số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính của N3 là 13.600.000 đồng – 3.288.000 đồng = 10.312.000 đồng. N3 đã trả cho Lục Thị M hết số tiền gốc.
7. Thạch Thị É (sinh năm: 1982, trú tại: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk);
Vào ngày 19/02/2020, É đến nhà M vay số tiền 45.000.000 đồng, hẹn 10 ngày sau trả đủ. Tuy nhiên, 05 ngày sau É trả tiền lãi và tiền gốc cho M. Số tiền lãi phải trả của 05 ngày là 675.000 đồng, nhưng M chỉ lẫy Ém số tiền lãi 650.000 đồng, bớt cho É 25.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (45.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 05 ngày = 123.000 đồng. Số tiền lãi Lục Thị M thu lợi bất chính của bà É là 650.000 đồng – 123.000 đồng = 527.000 đồng. É đã trả cho Lục Thị M hết số tiền gốc.
8. Tô Văn D1 (sinh năm: 1994, trú tại: Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk);
Vào ngày 25/4/2020, D1 vay của M số tiền 115.000.000 đồng, hẹn 10 ngày sau trả đủ. Tuy nhiên, 13 ngày sau D1 mới trả tiền lãi và tiền gốc cho M. Số tiền lãi phải trả của 13 ngày là 4.485.000 đồng, và D1 trả luôn số tiền gốc 115.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (115.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 13 ngày = 820.000 đồng. Số tiền lãi Lục Thị M thu lợi bất chính của D1 là 4.485.000 đồng – 820.000 đồng = 3.665.000 đồng. D1 đã trả cho Lục Thị M hết số tiền gốc.
9. Tạ Văn Đ (sinh năm: 1987, trú tại: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk);
Vào ngày 01/11/2020, Đinh vay Mến số tiền 5.000.000 đồng. Sau 33 ngày Đ đã trả cho bị cáo Lục Thị M là 5.495.000 đồng, gồm: 5.000.000 tiền gốc và 495.000 tiền lãi. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (5.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 33 ngày = 90.000 đồng. Số tiền lãi bị cáo Lục Thị M thu lợi bất chính của ông Đinh L 495.000 đồng – 90.000 đồng = 405.000 đồng. Đ đã trả cho Lục Thị M hết số tiền gốc.
10. Lục Thị B (sinh năm: 1966, trú tại: Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk);
Vào ngày 25/01/2020, B vay Lục Thị M số tiền 7.000.000 đồng, hẹn 26/01/2020 trả đủ. Tuy nhiên sau 77 ngày, B đã trả cho bị cáo Lục Thị M số tiền 8.500.000 đồng. Trong đó, 7.000.000 tiền gốc và 1.500.000 tiền lãi. Số tiền lãi phải trả trong 77 ngày là 1.617.000 đồng, bị cáo Lục Thị M đã bớt cho Ba 117.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (7.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 77 ngày = 295.000 đồng. Số tiền lãi bị cáo Lục Thị M thu lợi bất chính của Ba là 1.500.000 đồng – 295.000 đồng = 1.205.000 đồng. Ba đã trả cho Lục Thị M hết số tiền gốc.
11. Lương Thị C (sinh năm 1972, trú tại: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk);
Vào ngày 02/11/2020, C vay Lục Thị M số tiền 20.000.000 đồng, hẹn 20 ngày trả đủ. Đến ngày 04/11/2020, C tiếp tục vay thêm của M số tiền 5.000.000 đồng. Tổng số tiền C vay của M là 25.000.000 đồng, M đã tính lãi cho Cọi số tiền từ ngày 02/11/2020 đối với số tiền 25.000.000 đồng. Đến ngày 17/11/2020, C chỉ trả cho Lục Thị M số tiền gốc 10.000.000 đồng. Từ ngày 02/11/2020 đến ngày 17/11/2020 (15 ngày) số tiền lãi của 25.000.000 đồng là 1.125.000 đồng, Lục Thị M bớt cho C số tiền 25.000 đồng còn 1.100.000 đồng, nhưng C nợ lại số tiền 1.100.000 đồng tiền lãi và nợ lại tiền gốc là 15.000.000 đồng. Từ ngày 17/11/2020 đến ngày 17/12/2020 (30 ngày) Cọi trả cho bị cáo Lục Thị M số tiền lãi là 1.350.000 đồng và tiền lãi 1.100.000 đồng nợ trước đó và tiền gốc 15.000.000 đồng.
Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (25.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 15 ngày = 205.000 đồng. Số tiền lãi bị cáo Lục Thị M thu lợi bất chính của C là 1.100.000 đồng – 205.000 đồng = 895.000 đồng.
Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (15.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 30 ngày = 247.000 đồng. Số tiền lãi bị cáo Lục Thị M thu lợi bất chính của C là 1.350.000 đồng – 247.000 đồng = 1.103.000 đồng.
Tổng số tiền lãi C đã trả cho bị cáo Lục Thị M là 2.450.000 đồng, thu lợi bất chính tổng số tiền 1.998.000 đồng. C đã trả cho Lục Thị M hết số tiền gốc.
12. Triệu Thị H (sinh năm: 1980, trú tại: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk);
Vào ngày 19/5/2020, H có công việc gia đình nên vay Lục Thị M số tiền 5.000.000 đồng, hẹn 19/6/2020 trả đủ. Tuy nhiên, ngày 29/7/2020 H mới trả tiền lãi và tiền gốc cho M. Từ ngày 19/5/2020 đến 29/7/2020 (70 ngày) số tiền lãi H phải trả cho Lục Thị M là 1.050.000 đồng, M bớt cho H số tiền 50.000 đồng, thu của H số tiền lãi 1.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước cho phép thu là (5.000.000 đồng x 20%): 365 ngày x 70 ngày 192.000 đồng. Số tiền lãi bị cáo Lục Thị M thu lợi bất chính của bà H là 1.000.000 đồng – 192.000 đồng = 808.000 đồng. H đã trả cho Lục Thị M hết số tiền gốc.
Quá trình điều tra, xác định Lục Thị M còn cho nhiều người khác vay có lập hợp đồng vay, trong đó thỏa thuận lãi suất từ 1000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày và 2000 đồng /1.000.000 đồng/01 ngày, tuy nhiên mức lãi suất này không vượt quá mức lãi suất Nhà nước cho phép nên không có căn cứ xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 92/CT-VKS-HS, ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Lục Thị M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lục Thị M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lục Thị M số tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lục Thị M.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 10 cuốn vở ô ly, có chữ viết và chữ số của Lục Thị M liên quan đến việc vay mượn tiền. Đây là tài liệu chứng cứ nên cần lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện trả lại tổng số tiền thu lợi bất chính là 43.559.000 đồng cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cụ thể:
- trả lại cho Lâm Quốc Danh số tiền 5.464.000 đồng;
- trả lại cho Tôn Nữ Thùy N1 số tiền 773.000 đồng;
- trả lại cho Nông Văn T1 số tiền 6.236.000 đồng;
- trả lại cho Thạch Thị P số tiền 906.000 đồng;
- trả lại cho Đinh Thị N2 số tiền 11.260.000 đồng;
- trả lại cho Phan Thị N3 số tiền 10.312.000 đồng;
- trả lại cho Thạch Thị É số tiền 527.000 đồng;
- trả lại cho Tô Văn D1 số tiền 3.665.000 đồng;
- trả lại cho Tạ Văn Đ số tiền 405.000 đồng;
- trả lại cho Lục Thị B số tiền 1.205.000 đồng;
- trả lại cho Lương Thị C số tiền 1.998.000 đồng;
- trả lại cho Triệu Thị H số tiền 808.000 đồng.
Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 69.000.000 đồng tiền gốc và 11.815.000 đồng tiền lãi theo quy định của Nhà nước (20%/năm) mà bị cáo Lục Thị M đã thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Truy thu sung nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 19.000.000 đồng, là số tiền nợ gốc mà Tôn Nữ Thùy N1 đã vay chưa trả cho bị cáo Lục Thị M; Truy thu sung nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 87.000.000 đồng, là số tiền nợ gốc mà Đinh Thị N2 đã vay chưa trả cho bị cáo Lục Thị M.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, mức hình phạt và biện pháp tư pháp mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Về nội dung và tội danh đối với bị cáo: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Do ý thức coi thường pháp luật, muốn thu lợi bất chính trong việc cho vay tiền nên trong khoảng thời gian từ ngày 03/6/2019 đến tháng 25/3/2023, Lục Thị M đã sử dụng tổng số tiền 175.000.000 đồng với hình thức vay tiền đứng, cho 12 người trên địa bàn xã E và Cư A M1 vay với lãi suất là 3000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính tổng số tiền là 43.559.000 đồng.
Tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” như sau:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Lục Thị M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, bị cáo Lục Thị M bị truy tố và xét xử về một tội danh, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh tiền tệ và lợi ích hợp pháp của người vay, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại phương. Vì vậy, phải có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho những người vay tiền; bị cáo có cha đẻ là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và các hình phạt bổ sung khác đối với bị cáo.
[6]. Vật chứng vụ án:
Buộc bị cáo Lục Thị M phải nộp lại số tiền 69.000.000 đồng tiền gốc và 11.815.000 đồng tiền lãi suất 20%/năm mà bị cáo đã thu của những người vay để sung quỹ nhà nước.
Đối với số tiền nợ gốc 19.000.000 đồng của chị Tôn Nữ Thùy N1 và 87.000.000 đồng của chị Đinh Thị N2 còn nợ chưa trả hết cho bị cáo đây là số tiền dùng vào việc phạm tội, nên buộc chị Tôn Nữ Thùy N1 và chị Đinh Thị N2 phải nộp lại để sung quỹ nhà nước.
Đối với 10 cuốn vở ô ly, có chữ viết và chữ số của Lục Thị M liên quan đến việc vay mượn tiền là vật chứng liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần tịch thu lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền thu lợi bất chính 43.559.000 đồng cho những người vay tiền của bị cáo, nên cần chấp nhận.
Ngoài các lần cho vay lãi nặng nêu trên, bị cáo còn cho nhiều người khác vay tiền có lập hợp đồng vay. Tuy nhiên, mức lãi xuất các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện E không đề cập xem xét là phù hợp với quy định pháp luật.
Về tội danh, điều luật, mức hình phạt và biện pháp tư pháp mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên cần chấp nhận.
[7]. Về án phí: Bị cáo Lục Thị M phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lục Thị M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lục Thị M số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” để sung quỹ nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lục Thị M.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Buộc bị cáo Lục Thị M phải nộp lại số tiền 69.000.000 đồng tiền gốc và 11.815.000 đồng tiền lãi suất 20%/năm mà bị cáo đã thu của những người vay để sung quỹ nhà nước.
Buộc chị Tôn Nữ Thùy N1 phải nộp số tiền 19.000.000 đồng, buộc chị Đinh Thị N2 phải nộp số tiền 87.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
Tịch thu lưu giữ trong hồ sơ vụ án đối với 10 cuốn vở ô ly, có chữ viết và chữ số của Lục Thị M liên quan đến việc vay mượn tiền là vật chứng liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Chấp nhận việc bị cáo Lục Thị M đã tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền thu lợi bất chính 43.559.000 cho những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lục Thị M phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Lục Thị M có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quốc Hà |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lục Thị M
