Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO L
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh P

Bản án số: 100/2024/HSST
Ngày 25/11/2024

 

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L
TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Thúy Thành

Các Hội thẩm nhân dân: bà Đỗ Thị Thương Huyền

bà Nguyễn Thị Tài

Thư ký phiên tòa: ông Trương Quang Vũ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên toà: ông Lê Hữu V Phú- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo L xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hình S thụ lý số 108/2024/HSST ngày 29/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXTS-HS ngày 11/11/2024, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nông TR N, tên gọi khác: Vinh, sinh năm 1998 tại tỉnh Lâm Đồng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ 20, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ văn hoá: lớp 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Nông Đình Hợp, sinh năm 1972 và bà Mông Thị Vân, sinh năm 1975; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; vợ Lương Thị Luyến, sinh năm 1998, hiện sống tại tổ 20, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; bị cáo chưa có con; tiền án, tiền S: không; nhân thân: Tại Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 21/02/2020 của Chủ tịch UBND thị trấn Lộc Thắng, đã quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nông TR N trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 21/02/2020 đến 20/5/2020, lý do: có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại tổ 24, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L. N đã chấp hành xong thời hạn giáo dục vào ngày 20/5/2020.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/6/2024 đến ngày 20/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo L. Có mặt.

2. Họ và tên: Ngọc Văn V, tên gọi khác: không, sinh năm 1993 tại tỉnh Lâm Đồng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn 01, xã B’Lá, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ văn hoá: lớp 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Ngọc Văn Ho, sinh năm 1958 (đã chết) và bà Đặng Thị NH, sinh năm 1959 hiện sống tại thôn 01, xã B'Lá, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; gia đình có 06 anh, chị em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền S: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/6/2024 đến ngày 20/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo L. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Lâm Văn T, sinh năm 1999. Có mặt

    Địa chỉ: thôn 1, xã B' Lá, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng

  2. Anh K' TR, sinh năm 2001. Vắng mặt

    Địa chỉ: thôn 1, xã B' Lá, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng

  3. Anh Lê Hồng P, sinh năm 2001. Vắng mặt

    Địa chỉ: thôn 1, xã B' Lá, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng

  4. Anh Hoàng Văn S, sinh năm: 2003. Có mặt

    Địa chỉ: thôn 1, xã B' Lá, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng

  5. Bà Đặng Thị NH, sinh năm: 1959. Có mặt

    Địa chỉ: thôn 1, xã B' Lá, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng

  6. Anh Ngọc Văn TR, sinh năm 1986. Vắng mặt

    Địa chỉ: thôn 1, xã B' Lá, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng

  7. Anh Hồ Tứ Khả TA, sinh năm 1992. Vắng mặt

    Địa chỉ: thôn 4, xã Lộc Quảng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 30 ngày 11/6/2024, tại chòi canh cà phê của Ngọc Văn V ở thôn Hang Ka, xã Lộc Bảo, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, Công an huyện Bảo L và Công an xã Lộc Bảo kiểm tra trong chòi có Nông TR N, Ngọc Văn V, Lâm Văn T, sinh năm 1999; HKTT: Thôn 1, xã B’Lá, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, phát hiện trên bàn gỗ trong chòi có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (gồm 01 bình thủy tinh kích thước 07cm x 05cm, gắn nắp nhựa màu trắng kích thước 2,9cm x 2,1cm, tại nắp nhựa gắn nỏ thủy tinh kích thước 5,2cm x 0,4cm và 01 ống thủy tinh kích thước 2,9cm x 1,7cm, trên nỏ thủy tinh có bám dính chất màu đen); 01 bật lửa gas màu đỏ kích thước 7,5cm x 2,8cm ở dưới nền nhà; dưới chân bàn gỗ có 01 gói nylon dạng túi zip kích thước 3,8cm x 02cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi ma túy đá. N khai nhận số hạt tinh thể màu trắng nêu trên là ma túy của N cất giấu để bán kiếm lời, đồng thời N và V khai nhận đã sử dụng ma túy tại chòi vào tối ngày 10/6/2024 và sáng ngày 11/6/2024. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong các vật chứng nêu trên.

Quá trình điều tra xác định: Nông TR N và Ngọc Văn V quen biết nhau, là đối tượng nghiện ma túy. Để có ma túy sử dụng và bán lại cho người khác, N nhiều lần mua ma túy của Hồ Tứ Khả TA, sinh năm 1992, NKTT: Thôn 4, xã Lộc Quảng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng - theo lời khai của N). Sau đó, bằng hình thức liên lạc qua Zalo đăng ký số 0973934428 để thống nhất việc mua bán ma túy, chuyển tiền đến số tài khoản 11425001 của N tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) của N hoặc ví điện tử MoMo đăng ký bằng số điện thoại 0973.934.xxx, N sử dụng cân điện tử chia ma túy ra các gói nylon hoặc ống hút nhựa theo số tiền đối tượng cần mua và thông báo vị trí cất giấu ma túy (thường là ở cột mốc hoặc gốc cây thông đen gần nhà N) cho người mua. Bằng hình thức nêu trên, trong thời gian từ đầu tháng 12/2023 đến ngày 28/12/2023, N đã 08 lần bán ma túy cho 03 người, thu lợi được 2.200.000 đồng (gồm bán ma túy cho K'TR 03 lần với số tiền 800.000 đồng, Lê Hồng P 03 lần với số tiền 800.000 đồng và Hoàng Văn S 02 lần với số tiền 600.000 đồng), cụ thể:

  • N bán ma túy cho K'TR 03 lần, lần đầu tiên vào đầu tháng 12/2023 bán 200.000đ; Lần thứ hai bán 300.000đ; Lần thứ ba vào ngày 28/12/2023 bán 300.000đ. Các lần bán ma túy thì K'TR đều trả tiền cho N bằng cách chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng Quân đội (MB bank) của K'TR (số tài khoản 0915657484) đến tài khoản ngân hàng ACB của N. Sau khi nhận tiền N để ma túy đá vào gói thuốc Seven hoặc quấn vào khẩu trang rồi để dưới chân cột mốc hoặc gốc thông đen gần đường lên nhà N để các đối tượng đến lấy. Trong đó, lần mua ma túy thứ hai, K'TR chỉ chuyển 200.000đ, xin nợ 100.000đ. Sau đó, đến lần mua ma túy thứ ba, K'TR mua 300.000đ và chuyển 400.000đ để trả tiền nợ lần mua ma túy thứ hai.
  • N bán ma túy cho Lê Hồng P 03 lần, trong khoảng tháng 11, tháng 12/2023, các lần P mua ma túy của N từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, P trả tiền bằng cách chuyển tiền từ tài khoản MoMo của P đăng ký bằng số điện thoại 0367.809.xxx (tên Lê Hồng P) qua ví điện tử MoMo của N. Sau khi nhận được tiền, N để ma túy vào khẩu trang rồi để tại gốc thông đen hoặc cột mốc rồi gọi P tới lấy.
  • N bán ma túy cho Hoàng Văn S 02 lần vào khoảng giữa tháng 12/2023 với số tiền 300.000đ/01 lần. Khi mua ma túy, S chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng Viettinbank số tài khoản 101876030453 của mình vào tài khoản ngân hàng ACB của N với số tiền 200.000đ và trực tiếp gặp trả cho N 100.000đ.

Đến tháng 5/2024, N đến làm thuê và ở tại chòi canh cà phê của gia đình Ngọc Văn V (do V quản lý) tại thôn Hang Ka, xã Lộc Bảo, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Vào ngày 10/6/2024, N một mình đi xe mô tô đến khu vực nhà thờ xã Lộc Quảng, huyện Bảo L gặp Hồ Tứ Khả TA mua 500.000 đồng ma túy đưa về chòi của V, dùng nỏ sử dụng ma túy và cất giấu gói ma túy. V lúc này thức dậy đi vệ sinh thấy N sử dụng ma túy nhưng không ngăn cản. Khi đi vệ sinh xong, thấy N lên võng ngủ thì V tự ý lấy bật lửa khò dụng cụ sử dụng ma túy của N lên hút được 3 - 4 hơi ma túy sót lại trong bình rồi đi ngủ.

Đến sáng ngày 11/6/2024, V dậy trước đi sửa máy phát cỏ để ở ngoài chòi, N dậy sau tiếp tục sử dụng ma túy thì V đi vào nhìn thấy nhưng vẫn đồng ý cho N sử dụng và đi pha mỳ tôm ăn sáng. Sau khi sử dụng ma túy xong, N để bộ dụng cụ sử dụng ma túy ở bàn gỗ rồi đi ăn sáng. V ăn sáng xong thì tự ý khò bộ dụng cụ sử dụng ma túy còn sót lại để hút rồi đi làm. Đến 13 giờ cùng ngày, V gọi điện nhờ Lâm Văn T mua xăng và lưỡi phát cỏ mang vào cho V. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi N, V, Lâm đang ngồi nói chuyện ở bàn gỗ tại chòi nhà V thì bị Công an huyện Bảo L bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số: 753/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình S Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: “Phong bì 01: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3642gam, loại Methamphetamine; Phong bì 02: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong bầu tròn ống thủy tinh (M2) được niêm phong gửi giám định”. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSBL ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nông TR N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Ngọc Văn V về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo trình bày: bị cáo Nông TR N, Ngọc Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông TR N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình S, đề nghị xử phạt bị cáo Nông TR N từ 08 đến 09 năm tù; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngọc Văn V phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình S, đề nghị xử phạt bị cáo Ngọc Văn V từ 07 đến 08 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: không đề nghị

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong ghi số 753/2024-PC09; Hoàn mẫu: 0,2055(g).

01 phong bì thư niêm phong ghi số 753/2024-PC09; 01 bình thủy tinh nắp nhựa màu trắng, trên nắp gắn 01 ống thủy tinh dạng bầu và một ống thủy tinh được uốn cong, một đầu có dạng bầu tròn hở, trong bầu tròn bám dính chất màu đen (ký hiệu M2); 01 cân tiểu ly màu trắng bạc, kích thước 6,5cm x 12cm của nông TR N do ông Nông Đình Hợp (bố đẻ N) giao nộp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, màu xanh đen, số Imei: 353759098938222, bên trong gắn sim số: 0889376570 và 0973934428 của Nông TR N liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước;

01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo màu xanh, loại Y21, số Imei 1: 861428057341779, số Imei 2: 861428057341761, bên trong điện thoại gắn sim số 0916.812.xxx và 0333144428 của Ngọc Văn V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng đồng, số Imei: 365112093832882, bên trong gắn sim số: 0945306792, máy bị bể màn hình và vỏ phía sau máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE màu bạc, số Imei 356610080563840, bên trong gắn sim số: 0337721943 của Lâm Văn T là tài sản hợp pháp của bị cáo V và của anh T không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo V và anh T

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình S sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Bảo L, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình S. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo:

[2.1] Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận TA bộ hành vi phạm tội của mình, thể hiện: bị cáo Nông TR N và bị cáo Ngọc Văn V là người nghiện ma túy. Để có ma túy sử dụng và bán lại cho người khác,thời gian từ đầu tháng 12/2023 đến ngày 28/12/2023 N nhiều lần mua ma túy của Hồ Tứ Khả TA, sinh năm 1992, NKTT: Thôn 4, xã Lộc Quảng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Sau đó, N đã 08 lần bán ma túy cho 03 người, thu lợi được 2.200.000 đồng, gồm bán ma túy cho K'TR 03 lần với số tiền 800.000 đồng, Lê Hồng P 03 lần với số tiền 800.000 đồng và Hoàng Văn S 02 lần với số tiền 600.000 đồng.

Đến tháng 5/2024, N đến làm thuê và ở tại chòi canh cà phê của Ngọc Văn V tại thôn hang Ka, xã Lộc Bảo, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Vào ngày 10/6/2024, sau khi mua được 500.000₫ ma túy N đưa về chòi của V, dùng nỏ sử dụng ma túy và cất giấu gói ma túy dưới bàn gỗ nhà chòi của V. V thấy N sử dụng ma túy nhưng không ngăn cản. Thấy N lên võng ngủ thì V tự ý lấy bật lửa khò dụng cụ sử dụng ma túy của N lên hút được 3 - 4 hơi ma túy sót lại trong bình rồi đi ngủ. Đến sáng ngày 11/6/2024, V nhìn thấy N tiếp tục sử dụng ma túy nhưng vẫn đồng ý cho N sử dụng. Khi thấy N sử dụng ma túy xong, V tự ý khò bộ dụng cụ sử dụng ma túy còn sót lại để sử dụng rồi đi làm. Đến 13 giờ cùng ngày, V gọi điện nhờ Lâm Văn T mua xăng và lưỡi phát cỏ mang vào. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày khi N, V, Lâm đang ngồi nói chuyện ở bàn gỗ tại chòi nhà V thì bị Công an huyện Bảo L bắt quả tang. Vật chứng thu giữ được theo Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình S Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận là ma túy, có khối lượng 0,3642gam, loại Methamphetamine; Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong bầu tròn ống thủy tinh (M2) được niêm phong gửi giám định”. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn TA phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng và các chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

[2.2] Như vậy, có đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo Nông TR N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Ngọc Văn V cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L đã truy tố bị cáo Nông TR N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Ngọc Văn V về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo N và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo V là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự an TA xã hội tại địa phương. Nếu không được phát hiện kịp thời sẽ làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bản thân các bị cáo nhận thức được ma tuý là chất độc hại, một loại hàng đặc biệt do nhà nước độc quyền quản lý, bất kỳ ai vi phạm đến ma tuý, tuỳ tính chất mức độ đều bị xử lý nghiêm bằng luật hình S. Mặt khác, bị cáo N tại Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 21/02/2020 của Chủ tịch UBND thị trấn Lộc Thắng, đã quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nông TR N trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 21/02/2020 đến 20/5/2020, lý do: có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại tổ 24, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L nhưng không xem đó là bài học để tu dưỡng và rèn luyện bản thân mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó cho thấy bản thân bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật. Đối với bị cáo V biết bị cáo N sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà chòi của mình nhưng không tìm cách ngăn cản, trái lại để cho bị cáo N sử dụng trái phép chất ma túy và còn sử dụng ma tuý cùng nên phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo Minh.

Để trừng trị nghiêm khắc hành vi phạm tội, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và ngăn ngừa phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật nên cần phải xét xử và áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình S: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình S để giảm nhẹ trách nhiệm hình S đối với các bị cáo.

[2.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình S: Không

[2.5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[2.6] Từ những phân tích trên, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo và để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[2.7] Đối với K’TR, Lê Hồng P, Hoàng Văn S có hành vi mua ma túy của Nông TR N và đã sử dụng hết. Riêng đối với số ma túy N bán ngày 28/12/2023 cho K'TR, K'TR cùng các đồng phạm tổ chức sử dụng ma túy nên đã bị bắt và bị xét xử tại bản án số 83/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo L, anh Hoàng Văn S đã bị CQCSĐT Công an huyện Bảo L xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Lâm Văn T: Vào ngày 11/6/2024, T được Ngọc Văn V nhờ mua xăng, lưỡi cắt cỏ mang đến cho V. T không biết việc N mua bán ma túy, V chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nên không đủ căn cứ xử lý đồng phạm trong vụ án.

Đối với việc Nông TR N khai Hồ Tứ Khả TA là người bán ma túy cho N, quá trình điều tra TA không thừa nhận bán ma túy cho N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L không thu thập được chứng cứ, tài liệu khác do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với TA.

[3] Về vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình S và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình S: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong ghi số 753/2024-PC09; Hoàn mẫu: 0,2055(g).

  • - 01 phong bì thư niêm phong ghi số 753/2024-PC09; bên trong có 01 quẹt gas màu đỏ; 01 bình thủy tinh nắp nhựa màu trắng, trên nắp gắn 01 ống thủy tinh dạng bầu và một ống thủy tinh được uốn cong, một đầu có dạng bầu tròn hở, trong bầu tròn bám dính chất màu đen (ký hiệu M2).
  • - 01 cân tiểu ly màu trắng bạc, kích thước 6,5cm x 12cm của nông TR N do ông Nông Đình Hợp (bố đẻ N) giao nộp.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, màu xanh đen, số Imei: 353759098938222, bên trong gắn sim số: 0889376570 và 0973934428 của Nông TR N liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo màu xanh, loại Y21, số Imei 1: 861428057341779, số Imei 2: 861428057341761, bên trong điện thoại gắn sim số 0916.812.xxx và 0333144428 của Ngọc Văn V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng đồng, số Imei: 365112093832882, bên trong gắn sim số: 0945306792, máy bị bể màn hình và vỏ phía sau máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE màu bạc, số Imei 356610080563840, bên trong gắn sim số: 0337721943 của Lâm Văn T là tài sản hợp pháp của bị cáo V và của anh T không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo V và anh T

Đối với số tiền bán ma túy cho K'TR, Lê Hồng P, Hoàng Văn S, bị cáo N thu lợi bất chính 2.200.000 đồng cần buộc bị cáo nộp lại để sung Ngân sách nhà nước.

[4] Về án phí: bị cáo Nông TR N và Ngọc Văn V phạm tội nên buộc phải nộp 200.000 đồng án phí hình S sơ thẩm là đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nông TR N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình S.

    Xử phạt bị cáo Nông TR N 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024

    Bị cáo Ngọc Văn V phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý".

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình S.

    Xử phạt bị cáo Ngọc Văn V 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình S; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình S;

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong ghi số 753/2024-PC09; Hoàn mẫu: 0,2055(g); 01 phong bì thư niêm phong ghi số 753/2024-PC09; bên trong có 01 quẹt gas màu đỏ; 01 bình thủy tinh nắp nhựa màu trắng, trên nắp gắn 01 ống thủy tinh dạng bầu và một ống thủy tinh được uốn cong, một đầu có dạng bầu tròn hở, trong bầu tròn bám dính chất màu đen (ký hiệu M2); 01 cân tiểu ly màu trắng bạc, kích thước 6,5cm x 12cm.

    Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, màu xanh đen, số Imei: 353759098938222, bên trong gắn sim số: 0889376570 và 0973934428 của Nông TR N;

    Trả lại cho bị cáo Ngọc Văn V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo màu xanh, loại Y21, số Imei 1: 861428057341779, số Imei 2: 861428057341761, bên trong điện thoại gắn sim số 0916.812.xxx và 0333144428;

    Trả lại cho anh Lâm Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng đồng, số Imei: 365112093832882, bên trong gắn sim số: 0945306792, máy bị bể màn hình và vỏ phía sau máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE màu bạc, số Imei 356610080563840, bên trong gắn sim số: 0337721943.

    (Tất cả vật chứng theo biên bản giao nhận tài sản cơ quan Điều tra đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân S huyện Bảo L lưu giữ ngày 30/10/2024).

    Buộc bị cáo Nông TR N nộp lại số tiền thu lợi bất chính 2.200.000 đồng từ việc bán ma túy để sung Ngân sách nhà nước.

  3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình S và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nông TR N, Ngọc Văn V, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình S sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình S.

    Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 25/11/2024 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử P thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử P thẩm.

    (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan).

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thương Huyền- Nguyễn Thị Tài

Vũ Thị Thúy Thành

nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS huyện Bảo L;
  • - Bị cáo, và những người
    tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS huyện Bảo L;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Thị Thúy Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HSST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 100/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger