|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày 31/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Minh Khôi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tùng và bà Hoàng Thị Tuyết Nhung.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Lực - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024, đối với bị cáo:
Trần Trung T (tên gọi khác: T1), sinh năm 1992, tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình C, sinh năm 1946 và bà bà Võ Thị Kim S, sinh năm 1949; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út; Vợ: Nguyễn Thị Kim P, bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2024 cho đến nay - Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Đình H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 15 phút ngày 18/3/2024, Trần Trung T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ, biển kiểm soát: 74C1-51943 (là xe của Trần Đình H - anh trai của T) đi từ nhà ở khu phố A, phường Đ, thành phố Đông Hà đến khu vực Kiệt A đường B thuộc Khu phố B, Phường A, thành phố Đông Hà gặp một nam thanh niên tên B (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 150.000 đồng ma túy hồng phiến. T đưa tiền cho B rồi nhận lại 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 04 viên ma túy tổng hợp hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu ở túi quần bên trái đang mặc trên người rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi T điều khiển xe mô tô đến trước quầy tạp hóa số A đường H thuộc khu phố C, phường Đ, thành phố Đông H1 thì bị lực lượng Công an thành phố Đông Hà kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 01 gói ni long, màu xanh, bên trong có chứa 04 viên nén hình trụ tròn, màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY và xe mô tô biển kiểm soát: 74C1 – 51943.
Tại bản kết luận giám định số 410/KL-KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q kết luận: 04 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt có chữ WY được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT gửi đến giám định có khối lượng 0,3791 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Cáo trạng số: 96 /CT-VKSĐH ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung T từ 13 đến 15 tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS3A 077817 bên ngoài có chữ ký của nhừng người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 410/KL-KTHS vào ngày 25/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
Bị cáo Trần Trung T trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiệm chăm sóc bố mẹ và lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét thấy: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trung T đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 18/3/2024, bị cáo Trần T đã điều khiển xe mô biển kiểm soát 74C1-51943 từ nhà ở của mình đến Kiệt A đường B thuộc Khu phố B, Phường A, thành phố Đông Hà gặp một nam thanh niên tên B (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua được 04 viên ma túy tổng hợp hồng phiến với giá 150.000 đồng. Sau khi có ma túy, T cất giấu ở túi quần bên trái đang mặc trên người của mình rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi T đến trước quầy tạp hóa số A đường H thuộc khu phố C, phường Đ, thành phố Đông H1 thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy trên.
Căn cứ bản kết luận giám định cho thấy 04 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY thu giữ của bị cáo T là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,3791 gam. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 01 năm đến 05 năm”...c) Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Trung T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Trong tình hình hiện nay ma túy là một trong những tệ nạn bức xúc nhất của xã hội, ma túy gây ra tác hại rất nhiều mặt đến đời sống kinh tế và xã hội, gây nên sự bất an, làm mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến đời sống của quần chúng nhân dân sinh sống trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt xét thấy: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bố mẹ của bị cáo đều là những người có công với nước và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo hiện là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, con thì còn nhỏ, gia đình cũng có phần khó khăn. Vì vậy, cần xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đối với N thanh niên tên B, là người bán ma túy cho bị cáo T, nhưng không rõ lai lịch, địa chỉ. Quá trình điều tra không xác định được nên không có cơ sở xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra Công an thành phố Đ hiện đang tạm giữ gồm: Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS3A 077817 bên ngoài có chữ ký của nhừng người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 410/KL-KTHS vào ngày 25/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 74C1-51943. Đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông H, ông H không biết bị cáo sử dụng xe để làm phương tiện mua ma túy. Do đó, quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông H là đúng pháp luật. Sau khi nhận lại tài sản, ông H không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tiếp tục ban hành Quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Trung T (tên gọi khác: T1), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung T2 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 18/3/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3A 077817 bên ngoài có chữ ký của nhừng người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 410/KL-KTHS vào ngày 25/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/7/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Trung T3 chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Minh Khôi |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trung Thành phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
