Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hoàng

Bà Võ Thị Kiều Loan

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Nhựt L; Tên gọi khác: L.

Ngày, tháng, năm sinh: 17 tháng 10 năm 1995; Nơi sinh: Tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Trần Văn N; sinh năm 1959 (sống); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1963 (sống); A, chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1998; Vợ: Hà Thu H, sinh năm 1998 (đã ly hôn); Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo Trần Nhựt L đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An. Đến ngày 16/5/2024 Trần Nhựt L được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Nguyễn Minh T, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

2

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh T là bà: Lý Thị T1, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; theo hợp đồng ủy quyền ngày 03/4/2024, bà T1 có mặt.

- Bà Lý Thị T1, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; có mặt.

- Hà Văn A (T2), sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An; vắng mặt.

- Ngân hàng Thương mại cổ phần T5.

Địa chỉ trụ sở: Số D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Nguyễn Song D – chuyên viên chính và ông Thạch Trung H1 – Chuyên viên tố tụng; theo Giấy ủy quyền ngày 12/3/2024. Địa chỉ: C Hậu Giang, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Phạm Duy K, ông Huỳnh Trọng N1, ông Hà Văn A; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Nhựt L (Linh Nám) có quen biết một người thanh niên tên T3 (không xác định nhân thân lai lịch) ngụ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Khoảng cuối tháng 11 năm 2023 T3 biết L cần tiền tiêu xài nên T3 giới thiệu và cho L số điện thoại của 01 người tên T4 (không xác định nhân thân lai lịch). T4 yêu cầu L thuê xe ô tô để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu thuê cho T4 và nhờ T3 đưa cho L số tiền 12.000.000 đồng để tìm thuê xe ô tô. L đồng ý và thuê được xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Attrage, màu đỏ, biển số 62A-268.90. Số tiền 12.000.000 đồng L trả tiền thuê xe 6.000.000 đồng, số tiền còn lại L dùng đổ xăng và tiêu xài cá nhân.

Khoảng 17 giờ ngày 04/12/2023 T4 sử dụng điện thoại gọi cho L và yêu cầu L điều khiển xe ô tô đến khu vực xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nhận thuốc lá điếu nhập lậu vận chuyển đi giao ở khu vực huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh tiền công vận chuyển là 1.000.000 đồng/chuyến, L đồng ý. L điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Attrage, màu đỏ, biển số 62A-268.90 đến khu vực chợ T6 thuộc xã M, huyện Đ, tỉnh Long An thì có 01 người đàn ông (không xác định nhân thân, lai lịch) yêu cầu L giao xe ô tô cho người này để đi chất thuốc lá điếu nhập lậu cho L. L giao xe ô tô 62A-268.90 cho người đàn ông này điều khiển đi đâu L không rõ và đứng đợi khoảng 15 phút thì người này điều khiển xe ô tô 62A-268.90 quay lại giao cho L. L kiểm tra xe ô tô 62A-268.90 và nhìn thấy có 04 thùng (01 thùng 500 bao) thuốc lá điếu nhập lậu để trong cóp xe và 04 thùng thuốc lá điếu nhập lậu để ở hàng ghế sau của xe, tất cả đều là nhãn hiệu DAVIDOFF CLASSIC. Sau khi kiểm tra xong, L điều khiển xe ô tô 62A-268.90 chở theo số thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên từ khu vực chợ T6, xã M, huyện Đ,

3

tỉnh Long An đi giao ở huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi điều khiển xe ô tô biển số 62A-268.90 vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên đi đến đoạn đường ĐT822 thuộc ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị Công an huyện Đ, tỉnh Long An bắt quả tang. Qua kiểm tra trên xe ô tô lúc này có tổng cộng 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn DAVIDOFF CLASSIC.

Vật chứng tạm giữ gồm: 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu DAVIDOFF CLASSIC; 01 xe ô tô hiệu Mitsubishi, loại Attrage, màu đỏ, biển số: 62A-268.90, số khung: MMBSTA13ANH007814, số máy: 3A92UKM7119, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 PRO, sim số 0398648052, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, sim 0373.757.xxx, đã qua sử dụng; số tiền 40.000.000đồng.

Tại Công văn số 228/CV-2023 HHTLVN ngày 08 tháng 12 năm 2023 của H2 kết luận:

“1- 01 mẫu cây thuốc lá điếu có nhãn hiệu DAVIDOFF CLASSIC do cơ quan cung cấp là thuốc lá điếu nhập lậu.

2- Theo pháp luật hiện hành của Nhà nước, tất cả các loại thuốc lá điếu sản xuất, lưu thông hợp pháp trên thị trường nước ta (kể cả thuốc lá nhập khẩu) điều có dán tem do Bộ T7 ban hành sử dụng trên từng bao thuốc lá và có in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh và bằng tiếng Việt Nam trên 02 mặt trước và sau của bao thuốc lá.

3- Nghị Định 98/2020/NĐ-CP ngày 26-8-2020 của Chính phủ về: “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, tại C, Mục 2, Điều 8 đã nêu rõ: “Hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”.”

Về xử lý vật chứng: Số tiền 40.000.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tạm giữ của Trần Nhựt L khi bị bắt quả tang là tiền L mượn Hà Văn A (T2), sinh năm 1968, nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An để làm đám thôi nôi cho con của L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại lại cho Hà Văn A theo biên bản trả lại đồ vật, tài liệu ngày 11/12/2023.

Quá trình điều tra xác định xe ô tô hiệu Mitsubishi, loại Attrage, màu đỏ, biển số: 62A-268.90, số khung: MMBSTA13ANH007814, số máy: 3A92UKM7119 là xe do Nguyễn Minh T đứng tên chủ sở hữu. Nguyễn Minh T mua xe ô tô nói trên vào năm 2021 để phục vụ cho việc đi lại và thế chấp tại Ngân hàng T5 chi nhánh Q, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng tháng 10 năm 2023 T vay tiền của Lý Thị T1 và thế chấp xe ô tô 62A-268.90 cho T1, T đã giao xe ô tô 62A-268.90 cho T1 quản lý, sử dụng từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Việc Trần Nhựt L sử dụng xe ô tô 62A-268.90 làm phương tiện để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 04/12/2023 T không biết.

4

Đối với Lý Thị T1 trình bày: Bà T1 có cho Nguyễn Minh T vay tiền và nhận thế chấp xe, quản lý xe ô tô biển số 62A-268.90 từ Thiệt. Đến ngày 21/11/2023 T1 cho Trần Nhựt L thuê lại xe ô tô nêu trên với mục đích để L chạy dịch vụ chở khách (có ký kết hợp đồng, không có công chứng), giá thuê là 12.000.000 đồng/tháng và đã giao xe ô tô biển số 62A-268.90 cho L quản lý sử dụng cho đến nay. T1L quen biết nhau do L có thời gian thuê nhà ở gần nhà T1 tại ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Việc L sử dung xe ô tô 62A-268.90 làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 04/12/2023 T1 hoàn không biết.

Đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần T5 do ông Nguyễn Song D xác định: Nguyễn Minh T có vay vốn tại ngân hàng T5 với số tiền 322.000.000 đồng, căn cứ theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 22/2022/HDBD/TTKD OTO TDH ngày 25/03/2022, thời hạn vay là 84 tháng, phía Ngân hàng T5 có giữ giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô bản chính đối với phương tiện thế chấp là xe ô tô hiệu Mitsubishi, loại Attrage, màu đỏ, biển số: 62A-268.90, số khung: MMBSTA13ANH007814, số máy: 3A92UKM7119 và giao xe cho Thiệt quản lý, sử dụng. Việc Trần Nhựt L sử dụng xe ô tô biển số 62A-268.90 vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 04/12/2023 Ngân hàng T5 không biết. Tại bản tự khai ngày 24/7/2024, ông Nguyễn Song D đề nghị giải quyết bàn giao xe ô tô cho Ngân hàng thương mại cổ phần T5 để thu hồi nợ theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKSĐH ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Nhựt L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Nhựt L trình bày: Bị cáo không biết người đàn tên T4T3 họ tên địa chỉ cụ thể, bị cáo biết trước khi vận chuyển là thuốc lá ngoại nhập lậu. Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Masstel và sim số 0373.757.xxx bị cáo chỉ dùng để liên lạc trong gia đình không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị được nhận lại. Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro bị cáo dùng để liên lạc chở thuốc nên bị cáo đồng ý tịch thu.

Tại phiên tòa bà Lý Thị T1 trình bày: Nguyễn Minh T mượn tiền của bà để đáo hạn ngân hàng nên có thế chấp xe cho bà và bà có cho bị cáo Trần Nhựt L thuê nói đi chở dịch vụ chứ bà không biết L đi chở hàng cấm. Nay bà đại diện ủy quyền của Nguyễn Minh T đề nghị được nhận lại xe, việc thanh toán hợp đồng tín dụng ba bên sẽ thỏa thuận thực hiện theo hợp đồng tín dụng đã ký. Ngoài ra bà và ông Nguyễn Minh T không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát biểu luận tội: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng

5

Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018.

Tuyên bố bị cáo Trần Nhựt L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”, xử phạt bị cáo Trần Nhựt L mức hình phạt từ 2 năm 06 tháng đến 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu DAVIDOFF CLASSIC; sim số 0398648052.

- Trả lại cho ông Nguyễn Minh T 01 xe ô tô hiệu Mitsubishi, loại Attrage, màu đỏ, biển số: 62A-268.90, số khung: MMBSTA13ANH007814, số máy: 3A92UKM7119, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Trần Nhựt L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, đã qua sử dụng gắn sim số 0373757458.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông A; ông S, ông H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) và người chứng kiến nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Nhựt L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 04/12/2023, biên

6

bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận tại Công văn số 228/CV-2023 HHTLVN ngày 08 tháng 12 năm 2023 của H2 và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 04 tháng 12 năm 2023 tại đoạn đường thuộc ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Trần Nhựt L (L) có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 62A- 268.90 vận chuyển tổng cộng 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu DAVIDOFF CLASSIC cho người đàn ông tên T4 không xác định nhân thân, lai lịch từ khu vực chợ T8, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An đến khu vực huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, với tiền công vận chuyển là 1.000.000 đồng/chuyến thì bị Công an huyện Đ, tỉnh Long An bắt quả tang (L chưa nhận được tiền công vận chuyển).

Hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng 4.000 bao thuốc lá điếu của bị cáo Trần Nhựt L đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Vủ L1 theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

[2.2]. Hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự; do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Nhựt L phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo L thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và trong lời nói sau cùng có ý thức ăn năn hối cải. Do đó, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo thuộc gia đình có công với cách mạng (ông ngoại Nguyễn Văn N2, bà ngoại Huỳnh Thị M được tặng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước) và gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (đều có xác nhận của chính quyền địa phương) nên có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần cho bị cáo.

[4]. Căn cứ mục [2] và [3] xét thấy: Bị cáo Trần Nhựt L có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như vừa nêu trên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; có nơi cư trú rõ ràng, việc làm ổn định và là lao động chủ yếu

7

nuôi sống gia đình, có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo Trần Nhựt L đi chấp hành án phạt tù mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo theo như đề nghị của Kiểm sát viên cũng tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Từ phân tích [2], [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và mức hình phạt đối với bị cáo Trần Nhựt L là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Trần Nhựt L trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Nhựt L là phù hợp.

[7]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu DAVIDOFF CLASSIC do nước ngoài sản xuất không có chứng từ, hóa đơn, xuất xứ hàng hóa là vật chứng vụ án và thẻ sim số 0398648052 dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe ô tô hiệu Mitsubishi, loại Attrage, màu đỏ, biển số: 62A-268.90, số khung: MMBSTA13ANH007814, số máy: 3A92UKM7119, đã qua sử dụng là tài sản của Nguyễn Minh T đứng tên vay tiền và nhận thế chấp xe ô tô biển số 62A-268.90 cho Lý Thị Tuyết. Lý Thị T1 cho bị cáo Trần Nhựt L thuê lại xe ô tô nêu trên với mục đích để L chạy dịch vụ chở khách (có ký kết hợp đồng, không có công chứng) việc L sử dung xe ô tô làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 04/12/2023 bà T1 hoàn không biết nên trả xe ô tô này cho ông Nguyễn Minh T do bà Lý Thị T1 là đại diện ủy quyền là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro đã qua sử dụng bị cáo khai dùng để liên lạc, trao đổi thực hiện hành vi phạm tội nhưng còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, gắn thẻ sim số 0373757458 đã qua sử dụng không dùng vào việc phạm tội bị cáo yêu cầu nhận lại là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Minh T, bà Lý Thị T1 là không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với việc cho Trần Nhựt L thuê xe ô tô nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[9] Đối với người đàn ông tên T4, có hành vi thuê Trần Nhựt L vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu ngày 04/12/2023 và người đàn ông tên T3 không xác định họ tên, địa chỉ có hành vi cho L số điện thoại của T4 để L liên hệ vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho T4, do không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra Quyết định

8

tách hành vi số 09 ngày 23/4/2024, tách hành vi của T4T3 để tiếp điều tra, xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[10] Đối với Nguyễn Minh T là chủ của xe ô tô hiệu Mitsubishi, loại Attrage, màu đỏ, biển số: 62A-268.90. Ngày 21/10/2023, T vay Lý Thị T1 số tiền 400.000.000 đồng và thế chấp bằng xe ô tô trên. T không biết Trần Nhựt L sử dụng xe ô tô trên vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 04/12/2023 nên không cấu thành tội phạm có liên quan.

[11] Đối với bà Lý Thị T1, ngày 21/11/2023 bà T1 cho Trần Nhựt L thuê lại xe ô tô biển số 62A-268.90 với giá thuê là 12.000.000 đồng/1 tháng mục đích để L đi chở khách, việc L sử dụng xe ô tô trên để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu ngày 04/12/2023, bà T1 không biết nên hành vi của T1 không cấu thành tội phạm có liên quan.

[12] Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần T5 ký hợp đồng tín dụng vay vốn với ông Nguyễn Minh T là chủ của xe ô tô hiệu Mitsubishi (tài sản thế chấp) nếu sau này Ngân hàng thương mại cổ phần T5 có tranh chấp về hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Minh T thì Ngân hàng thương mại cổ phần T5 được quyền khởi kiện vụ án dân sự khác.

[13] Đối với Hà Văn A (T2) cho L mượn số tiền 40.000.000đồng vào ngày 04/12/2023 số tiền này không có liên quan đến hành vi phạm tội của L. Ông A không biết việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu của L ngày 04/12/2023 nên hành vi của A không cấu thành tội phạm có liên quan và việc Cơ quan điều tra trả lại số tiền 40.000.000đồng cho ông A là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[14]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Nhựt L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Nhựt L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018.

9

Xử phạt: Bị cáo Trần Nhựt L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Nhựt L về Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Trần Nhựt L có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Trần Nhựt L.

Trường hợp bị cáo Trần Nhựt L thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy đối với 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu DAVIDOFF CLASSIC và thẻ sim số 0398648052.

- Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Trần Nhựt L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim số 0373757458.

- Trả lại cho ông Nguyễn Minh T do bà bà Lý Thị T1 là đại diện theo ủy quyền 01 xe ô tô hiệu Mitsubishi, loại Attrage, màu đỏ, biển số: 62A-268.90, số khung: MMBSTA13ANH007814, số máy: 3A92UKM7119, đã qua sử dụng.

Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 100-21/02/2024 ngày 21 tháng 02 năm 2024.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trần Nhựt L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Án này là sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

10

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Đức Hòa;
  • - CQ THAHS Công an huyện Đức Hòa;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Đức Hòa;
  • - UBND xã Thạnh Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về hình sự về tội vận chuyển hàng cấm (điều 191 bộ luật hình sự)

  • Số bản án: 100/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Vận chuyển hàng cấm (Điều 191 Bộ luật Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Nhựt L phạm tội Vận chuyển hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger