Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS-ST

Ngày 23 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị An

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Vi Phương Linh- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 5 năm 1985 tại Hòa Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Bùi Văn N (đã chết); con bà: Bùi Thị X, sinh năm 1963; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Đồng Thị Ánh N1, sinh năm: 1995; có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án; tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt)

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Chị Dương Thị K, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có đơn xin vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1951

1

Địa chỉ: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn Đ là đối tượng không có việc làm ổn định, thường xuyên đi làm thuê cho các chủ xây dựng, quá trình làm thuê đã phát sinh mâu thuẫn trong việc thanh toán tiền công, bị nợ tiền không đòi được nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.

Khoảng 11 giờ ngày 30/9/2023, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, không rõ biển kiểm soát (xe do Đ mượn của người đàn ông gửi tại nhà mình), một mình đi từ nhà vợ tại xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên đến phòng trọ của chị Dương Thị K, sinh năm 1984, HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, địa chỉ tại tổ B, phường P, TP T (là người Độ làm thuê trong khoảng thời gian đầu tháng 9 năm 2023). Khi đến dãy trọ này, Đ thấy phòng trọ của chị K khóa cửa, không có ai ở phòng. Do chị K còn nợ tiền công của Đ, mặc dù Đ đã nhiều lần hỏi nhưng chị K không trả và biết trong phòng trọ của chị K có một số tài sản là đồ vật làm xây dựng nên Đ đã nảy sinh ý định trộm cắp các tài sản này. Lợi dụng thời điểm không ai để ý, Đ nhặt 01 viên gạch phía trước cửa phòng trọ đập vào ổ khóa cửa phòng trọ của chị K, khi đập được khoảng vài phát thì có một người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch, là người có phòng trọ cùng dãy) đi làm từ ngoài về và hỏi Đ sao lại đập cửa thì Đ nói do anh chị chủ đi vắng nên đập cửa vào để ăn mỳ tôm. Sau đó người nam giới này đưa cho Đ 01 chiếc mỏ lết và quay lại phòng của mình, Đ cầm chiếc mỏ lết kê lên ổ khóa cửa và dùng gạch đập tiếp thì ổ khóa bị vỡ. Sau khi vào phòng, Đ ăn mỳ tôm và nhìn thấy tại vị trí dưới nền phòng trọ có 01 túi đựng đồ để dưới nền nhà, Đ mở túi ra thì thấy có nhiều máy khoan, máy bắn vít và các dụng cụ xây dựng nên đã xách túi này ra xe, khép cửa phòng trọ lại và đi thẳng về nhà vợ tại xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên và cất tại góc nhà, không nói với ai. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị Dương Thị K đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.

Tối ngày 02/10/2023 do nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Đ đã mang tất cả số tài sản trộm cắp được đến phòng trọ trả lại cho chị K và ra về.

Kết luận giám định số 268/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản. Kết luận:

+ 01 máy bắn vít pin cầm tay nhãn hiệu Alenka, màu xanh đen, loại 18 V, MAX, 2000MAH, trên máy ghi chữ BRUSHLESS, đã qua sử dụng, trị giá 800.000 đồng;

+ 01 máy bắn vít pin cầm tay nhãn hiệu Alenka, màu xanh đen đỏ, loại 18V, LI - ION, đã qua sử dụng trị giá 800.000 đồng;

2

+ 01 máy bắn vít pin cầm tay nhãn hiệu Alenka, màu xanh đen đỏ, loại 18V, MAX, 2000 MAH, trên máy ghi chữ BRUSHLES, đã qua sử dụng, trị giá 800.000 đồng;

+ 01 máy khoan vít điện nhãn hiệu RTOP XH1026, màu đỏ đen, công suất 620 W, trên máy ghi chữ Date 2020.04 Madein Việt Nam, đã qua sử dụng, trị giá 500.000 đồng;

+ 01 máy khoan vít điện nhãn hiệu BIMIN BM - 10-01, công suất 430W, màu xanh đen, đã qua sử dụng, trị giá 600.000 đồng;

+ 01 máy bắn vít điện nhãn hiệu AMAX, model AM 06 - 01, công suất 350W, màu đỏ đen, đã qua sử dụng, trị giá 1.200.000 đồng;

+ 01 máy bắn vít pin cầm tay, nhãn hiệu MAKITA, màu xanh đen, công suất 199V, trên máy ghi chũ Madein Japan, đã qua sử dụng, trị giá 1.700.000 đồng;

+ 01 máy khoan bê tông, nhãn hiệu BOSCH, màu xanh đen, trên máy ghi chữ 26MM MM ROTARY HAMMER và chõ KOBANY, đã qua sử dụng, trị giá 800.000 đồng;

+ 01 máy khoan bê tông cầm tay, nhãn hiệu DCA AZC05 - 26B HAMMER DRILL, công suất 800W, màu xanh đen, đã qua sử dụng, trị giá 1.100.000 đồng;

+ 01 máy bắn laser, màu đen cam, nhãn hiệu SENKYO, đã qua sử dụng, trị giá 900.000 đồng;

+ 01 dao cắt thạch cao bằng Inox, dài 70cm, không rõ nhãn hiệu, trị giá 500.000 đồng;

+ 05 dao cắt giấy màu vàng đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, trị giá 50.000 đồng;

+ 01 kéo cắt khung xương thạch cao, tay cầm màu cam, ghi chữ K1, đã qua sử dụng, trị giá 100.000 đồng;

+ 01 thước dây màu cam đen, loại dài 5m, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, trị giá 40.000 đồng;

+ 01 thước dây màu xanh, loại dài 5m, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, trị giá 40.000 đồng;

+ 01 cuộc dây điện, không rõ nhãn hiệu, bọc ngoài màu đen, đường kính 0,7 cm, dài 50m, một đầu được kết nối với 01 phích cắm màu trắng xanh, đã qua sử dụng, trị giá 850.000 đồng;

+ 01 cuộn dây điện, không rõ nhãn hiệu, bọc ngoài màu đen, đường kính 0,5cm, dài 50m, một đầu được kết nối với 01 ổ cắm loại 04 ổ, trên ổ cắm ghi chữ VINAKIP, mã CC32S031 Madein Việt Nam, một đầu được gắn 01 phích cắm màu trắng xanh, đã qua sử dụng, trị giá 700.000 đồng;

+ 01 cuộn dây điện, không rõ nhãn hiệu, bọc ngoài màu đen, đường kính 0,5cm, dài 50m, một đầu được kết nối với 01 ổ cắm loại 04 ổ, trên ổ cắm ghi chữ VINAKIP, mã CC32S031 Madein Việt Nam, một đầu được gắn 01 phích cắm màu trắng xanh, đã qua sử dụng, trị giá 800.000 đồng;

Tổng giá trị là 12.320.000 đồng

Vật chứng của vụ án:

3

- 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp, màu đen, mép trên ổ khóa có dấu vết mài trượt móp méo kim loại, đã qua sử dụng.

Chiếc mỏ lết và viên gạch vỡ không thu hồi được

Phần dân sự: Bị hại là chị Dương Thị K đã nhận lại số tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSTPTN ngày 13/3/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Bùi Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi văn Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ từ 09 đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.

Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/9/2023 tại phòng trọ của chị Dương Thị Ktổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Văn Đ đã có hành vi đập khóa cửa trộm cắp tài sản là 01 túi đựng đồ bên trong chứa các dụng cụ xây dựng, có tổng giá trị là 12.320.000 đồng. Hiện số tài sản bị chiếm đoạt đã giao cho chị K quản lý sử dụng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, lời khai của bị hại và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

4

Xét thấy, hành vi của bị cáo được thực hiện một cách lén lút với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do vậy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng, nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

[3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo mới sinh con nên Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt và sớm trở về với gia đình thực hiện vai trò trụ cột của người chồng, người cha.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản mà bị cáo trộm cắp của chị K, hiện chị K đã nhận lại đủ tài sản. Đối với chiếc khoá cửa bị hỏng, chị K cũng không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5]. Về vật chứng:

Đối với chiếc khoá Việt Tiệp đã móp méo, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc mỏ lết và viên gạch vỡ không thu hồi được.

5

Đối với chiếc xe mô tô mà Đ sử dụng để đi từ nhà xuống thành phố T, sau đó chở số tài sản lấy của chị K mang về nhà, Đ khai không rõ biển kiểm soát, xe do một người đàn ông làm thuê ở khu vực gần nhà gửi nhờ tại nhà Đ. Vào ngày xảy ra sự việc, Đ hỏi mượn xe để đi xuống thành phố T, người này thấy Đ hỏi mượn thì cho mượn chứ không biết Đ dùng xe vào việc gì. Khi về đến nhà, Đ trả lại xe cho người đó và không biết địa chỉ của người này ở đâu nên không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ chiếc xe.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo có phần nghiêm khắc so với hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Đối với người đàn ông cho Đ mượn mỏ lết và người đàn ông cho độ mượn xe mô tô để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của những người này nên chưa đủ căn cứ để làm rõ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Bùi Văn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 09/01/2024 . Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc ổ khoá màu đen, mép trên ổ khóa có dấu vết mài trượt móp méo kim loại, đã qua sử dụng.

(Vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự TP Thái Nguyên. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 114 ngày 14/3/2024 giữa cơ quan Công an T và Chi cục Thi hành án dân sự TP Thái Nguyên).

4. Về Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy

6

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Bùi Văn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPTN;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an TPTN;
  • - Chi cục THADS TPTN;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - UBND xã Phú Thành, H.Lạc Thủy, T.Hòa Bình;
  • - UBND xã Thần Sa, H. Võ Nhai, T.TN;
  • - Bị cáo; Bị hại; NLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

7

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 100/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Độ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt: Bùi Văn Độ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 09/01/2024 . Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger