Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:100/2024/HS-ST

Ngày 04-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Nơi
  2. Ông Trần Đăng Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1972; tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Tổ dân phố (viết tắt là TDP) Đầu, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Khúc Thị S (đều đã chết); có vợ là chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976; có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai. Nhân thân: Tại bản án số 30/HSST, ngày 30-12-1995 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 03 tháng tù về tội “gây rối trật tự công cộng”. Tại bản án số 20/HSST, ngày 21-8-1999 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (đều đã được xóa án tích); Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 06-5-2024, hiện tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Phạm Xuân T2, sinh năm 1962; Nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình (xin vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Bà Trần Thị T3, sinh năm 1965
  2. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976

Đều cư trú tại: TDP Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có mâu thuẫn từ trước giữa gia đình Nguyễn Văn T và gia đình ông Phạm Xuân T2 cùng cư trú tại TDP Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình về việc gia đình ông T2 vứt rác ra ngõ đi chung ở trước khu vực cổng gia đình nhà T (sự việc này đã được cơ sở thôn gặp gỡ để hòa giải). Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 21-3-2024, T từ trong nhà đi ra mở cổng, lúc quay về nghe thấy tiếng “bộp”, T quay lại nhìn thấy ông T2 đang đứng ở khu vực trước cổng, nghĩ là ông T2 vứt rác nên chửi ông T2, hai bên lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau. T mở cổng đi đến đống gạch bê tông ở ngoài đường, hai tay nhặt 02 cục bê tông có hình dạng kích thước (11 x 7 x 5,5) cm và (8 x 5,5 x 6) cm cầm đi đến chỗ ông T2 đang đứng, thấy ông T2 tiếp tục chửi. T cầm cục bê tông đang cầm bên tay trái ném trúng vào vùng gò má trái làm ông T2 bị chảy máu, ôm mặt và ngồi xuống đường; T tiếp tục dùng cục bê tông đang cầm bên tay phải ném vào đùi phía trong bên phải của ông T2 gây thương tích cho ông T2, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông T2 là 24%. Sau khi bị T gây thương tích, ông T2 ôm mặt chạy về nhà, được chị P (là con gái ông T2) đưa đi Bệnh viện Đ khám và điều trị.

Tại Kết luận giám định số 177/KLTTCT- TTPY ngày 22/4/2024 của Trung tâm pháp y sở Y kết luận: Gò má trái có vết sẹo nhỏ 03%, mặt trong 1/3 dưới đùi phải có vết sẹo nhỏ 01%, vỡ xương gò má trái 08%, vỡ thành ngoài xoang hàm trái 07%, vỡ xương thái dương trái 08%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với Phạm Xuân T2 tại thời điểm giám định là 24%. Thương tích của Phạm Xuân T2 do vật tầy cứng gây nên.

Bản cáo trạng số 104/CT-KSHH ngày 14-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác định thương tích của ông T2 là do bị cáo gây nên. Mặc dù ông T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí chữa trị thương tích cho ông T2 nhưng bị cáo đã tự nguyện hỗ trợ thêm với ông T2 10.000.000 đồng (ông T2 gửi lại bị cáo 1.000.000 đồng) để chữa trị thương tích.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng đ khoản 2 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Giao bị cáo cho UBND thị trấn H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại một phần số tiền để chữa trị thương tích. Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm 01 chiếc áo phông cộc tay, cổ tròn màu vàng nhạt; 01 chiếc quần đùi kẻ ca rô; 01 cục bê tông kích thước (11 x 7 x 5,5)cm, 01 cục bê tông kích thước (8 x 5,5 x 6)cm, đều có hình dạng không xác định; 01 đoạn tuýp bằng kim loại phi 21, dài 1m13cm. Về án phí, bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn trình báo của bà Trần Thị T3 và Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 21-3-2024; Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Công an thị trấn H và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 21-3-2024 và ngày 26-3-2024; Bản kết luận giám định số 177/KLTTCT- TTPY ngày 22/4/2024 của Trung tâm pháp y sở Y; Lời khai của người bị hại ông Phạm Xuân T2; Lời khai của người làm chứng bà Nguyễn Thị T4 và chị Nguyễn Thị T1 cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ 30 ngày 21-3-2024, tại đường thuộc TDP Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi dùng 02 cục bê tông có hình dạng kích thước (11 x 7 x 5,5) cm và (8 x 5,5 x 6) cm là hung khí nguy hiểm ném 01 nhát trúng vào vùng gò má trái và một nhát trúng vào đùi phía trong bên phải của ông Phạm Xuân T2 gây thương tích cho ông T2. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 24%.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 thuộc trường hợp quy định tịa điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo H thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khỏe. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo nên bị cáo được áp dụng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo bản thân do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm bồi thường: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận việc bị cáo đã tự bồi thường cho bị hại một phần số tiền để chữa trị thương tích cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Xét thấy sự thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.

[7] Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc áo phông cộc tay, cổ tròn màu vàng nhạt; 01 chiếc quần đùi kẻ ca rô; 01 cục bê tông kích thước (11 x 7 x 5,5)cm, 01 cục bê tông kích thước (8 x 5,5 x 6)cm, đều có hình dạng không xác định; 01 đoạn tuýp bằng kim loại phi 21, dài 1,13 m đây là những tài sản của bị cáo T, bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà là phù hợp nên cần chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Áp dụng khoản đ khoản 2 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  3. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo người bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại một phần số tiền để chữa trị thương tích, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào tiền khác.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm 01 chiếc áo phông cộc tay, cổ tròn màu vàng nhạt; 01 chiếc quần đùi kẻ ca rô; 01 cục bê tông kích thước (11 x 7 x 5,5)cm, 01 cục bê tông kích thước (8 x 5,5 x 6)cm, đều có hình dạng không xác định; 01 đoạn tuýp bằng kim loại phi 21, dài 1m13cm. Toàn bộ những vật chứng trên do chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang quản lý theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 14-8-2024.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Hưng Hà;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 100/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger