|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày: 18-9-2024 |
NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Tiến Đức
- Ông Chu Đàm Nguyên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Tiến Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/HSST ngày 07/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88A/2024/QĐXXST-HS ngày 04/9/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lò Văn T; Sinh ngày 17/3/2003 tại huyện T, tỉnh Sơn La. Nơi thường trú: bản Tum Tàn, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; Chỗ ở: thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn K và bà: Lò Thị S. Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị giữ khẩn cấp ngày 12/4/2024, đang thực hiện Quyết định tạm giam 70 (Bảy mươi) ngày, kể từ ngày 10/8/2024 của TAND thị xã Quảng Yên. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; Có mặt.
- Họ và tên: Phùng Đình T1; Sinh ngày 29/5/1970 tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Nơi thường trú: khu E, thị trấn Nông Trường L, huyện V, tỉnh Yên Bái; Chỗ ở: thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phùng Đức L (đã chết) và bà: Hà Thị L1. Có vợ là Nguyễn Thị N và 03 (Ba) con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị giữ khẩn cấp ngày 12/4/2024, đang thực hiện Quyết định tạm giam 55 (Năm mươi lăm) ngày, kể từ ngày 10/8/2024 của TAND thị xã Quảng Yên. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T: Luật sư Đào Bá Y - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q. Có mặt;
* Người chứng kiến:
- - Ông Bùi Đức L2, sinh năm 1982. Nơi thường trú: thôn D, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
- - Bà Vũ Thị M, sinh năm 1967. Nơi thường trú: thôn A, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- - Ông Nguyễn Quang D, sinh năm 1978. Nơi thường trú: thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.
- - Anh Đoàn Quang C, sinh năm 1990. Nơi thường trú: thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.
- - Anh A, sinh năm 1993. Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Chỗ ở: thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.
- - Anh Hoàng Văn K1, sinh năm 1983. Nơi thường trú: bản Lầm, xã S, huyện V, tỉnh Yên Bái; Chỗ ở: thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 40 phút ngày 11/4/2024 tại Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý, Công an thị xã Q phối hợp cùng Công an xã S, thị xã Q tiến hành kiểm tra hành chính khu trọ của anh Đoàn Quang C thuộc thôn G, xã S, thị xã Q phát hiện và thu giữ tại phòng trọ của Lò Văn T:
- + Tại túi áo ngực trước bên trái áo khoác màu xám: thu 01 gói nilon màu hồng [bên trong chưa chất bột màu trắng dạng cục (Kí hiệu M1)].
- + Túi áo ngực, phía trong bên trái áo khoác màu xám: thu 01 lọ màu trắng hình trụ [bên trong lọ có 10 gói giấy màu trắng (kí hiệu M2-M11) bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục];
- + Trong hộp giấy màu trắng dưới chiếu: thu 01 cân điện tử màu đen; 01 lưỡi dao cạo râu và 10 tờ giấy màu trắng có kích thước khác nhau];
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh (không kèm sim), đã qua sử dụng).
Thoáng khai nhận chất bột màu trắng dạng cục có trong 01 gói nilon màu hồng và 10 gói giấy màu trắng đều là ma tuý (loại Heroine), T cất giấu nhằm bán khi có người hỏi mua. Nguồn gốc số ma tuý này là của L3 (người quen của T) chỉ đạo T đi nhận ma tuý của người thanh niên tên C1 tại Hải Phòng vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/4/2024. Sau khi nhận ma tuý, T mang về phòng trọ chia được 38 gói nhỏ (trong đó, sử dụng cho bản thân 03 gói, bán được 24 gói và bị thư giữ 11 gói). Tất cả việc mua bán 20 gói ma tuý (cho AMan và Hoàng Văn K1) đều được giao dịch tại phòng trọ số 02 Thoáng thuê của ông Đoàn Quang C thuộc thôn G, xã S, thị xã Q; Giá mỗi gói ma tuý đều là 100.000đồng, cụ thể:
- - Ngày 08/4/2024, bán 02 gói ma tuý (bán cho Aman 01 gói hồi 21 giờ 30 phút; bán cho K1 01 gói hồi 22 giờ);
- - Ngày 09/4/2024, bán 06 gói ma tuý [bán cho A M1 03 gói (vào 06 giờ 15 phút; 11 giờ 10 phút và 18 giờ) và bán cho K1 03 gói (vào 06 giờ 25 phút; 11 giờ 30 phút và 18 giờ 15 phút)];
- - Ngày 10/4/2024, bán 06 gói ma tuý [bán cho A M1 03 gói (vào 06 giờ; 11 giờ 10 phút và 18 giờ) và bán cho K1 03 gói (vào 06 giờ 15 phút; 11 giờ 20 phút và 18 giờ 10 phút)];
- - Ngày 11/4/2024, bán 06 gói ma tuý [bán cho A M1 03 gói (vào 06 giờ 05 phút; 11 giờ 00 phút và 18 giờ 10 phút) và bán cho K1 03 gói (vào 06 giờ 20 phút; 11 giờ 20 phút và 18 giờ 20 phút)];
- * Ngoài ra, T còn bán ma tuý cho Phùng Đình T1 vào hồi 06 giờ 30 phút và 18 giờ 30 phút các ngày 10 và 11/4/2024 cũng với giá 100.000đồng/gói tại phòng trọ củ mình.
Căn cứ lời khai của Lò Văn T, vào hồi 22 giờ 35 phút ngày 11/4/2024, tại đoạn đường thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý, Công an thị xã Q phối hợp cùng Công an xã S, thị xã Q tiến hành kiểm tra hành chính Phùng Đình T1 phát hiện trong ví da tại túi áo ngực trái T1 đang mặc có 02 gói giấy màu trắng (Kí hiệu M1, M2) bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ghi là ma tuý. Nguồn gốc số ma tuý T1 khai nhận là ma tuý (loại Heroine) được Lò Văn T (là người quản lý công nhân trong Khu công nghiệp AMATA cho người đàn ông tên L3) trả 01 ngày công (02 gói = 200.000đồng). T1 cất giấu trong người nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ.
Bản ảnh xác định vị trí; Sơ đồ hiện trường; Biên bản khám nghiệm hiện trường đều thể hiện: hiện trường xảy ra vụ việc tại nhà trọ thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Kết luận giám định số 521/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q: chất bột màu trắng trong 02 (hai) gói giấy ghi thu của Phùng Đình T1 là ma tuý; loại Heroine. Khối lượng M1: 0,09gam; M2: 0,116gam. H lại đối tượng giám định M1: 0,04gam; M2: 0,06gam.
Kết luận giám định số 525/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q: chất bột màu trắng trong 11 (mười một) gói giấy ghi thu của Lò Văn T là ma tuý; loại Heroine. Khối lượng M1=3,956gam; M2=0,064gam; M3=0,069gam; M4=0,162gam; M5=0,168gam; M6=0,188gam; M7=0,171gam; M8=0,172gam; M9=0,174gam; M10=0,166gam; M11=0,182gam
Hoàn lại đối tượng giám định M1=3,91gam; M2=0,02gam; M3=0,03gam; M4=0,11gam; M5=0,12gam; M6=0,14gam; M7=0,12gam; M8=0,12gam; M9=0,12gam; M10=0,12gam; M11=0,13gam.
Hành vi mua trái phép ma tuý để sử dụng của A M1 và Hoàng Văn K1 đã bị Công an thị xã Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Người đàn ông tên L3, T khai đã điều hành T đi nhận và bán ma tuý và người đàn ông tên C1 đã giao ma tuý cho T đều không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Anh Đoàn Quang C không biết việc Lò Văn T thuê nhà trọ mà bán trái phép chất ma tuý, Cơ quan điều tra xác định anh C không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Cáo trạng số 1690/CT-VKSQY ngày 07/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Phùng Đình T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- - Căn cứ điểm b, h khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt Lò Văn T từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù, thời hạn tính từ 12/4/2024.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt Phùng Đình T1 từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ 12/4/2024.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;
- - Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau giám định, 01 lưỡi dao cạo râu và 10 tờ giấy màu trắng là vật chứng trong vụ án. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh (không kèm sim), đã qua sử dụng của Lò Văn T2.
Tại phiên toà, cả 2 bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật; việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, đã được thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; được giải thích về việc công bố bản án trên Cổng thông tin điện tử và không có ý kiến gì khác.
Bị cáo Lò Văn T khai: ngày 07/4/2024, T xuống khu công nghiệp làm cho L3 (không rõ lai lịch do T chỉ trao đổi qua điện thoại) và L3 bảo T đi sang Hải Phòng mua ma tuý về chia nhỏ bán cho những đối tượng nghiện làm công cho L3. Ai làm đủ thì mỗi ngày trả 03 gói ma tuý. Số ma tuý bị thu giữ là L3 chỉ đạo Thoáng đi nhận ma tuý (trong 01 túi nilon màu đen) của người thanh niên tên C1 tại Hải Phòng vào hồi 20 giờ ngày 08/4/2024. Sau khi nhận ma tuý, T mang về phòng trọ chia được 38 gói nhỏ (trong đó, sử dụng cho bản thân 03 gói, bán được 24 gói và bị thu giữ 11 gói). Tất cả việc mua bán ma tuý đều được giao dịch tại phòng trọ của T tại thôn G, xã S, thị xã Q; Giá của mỗi gói ma tuý đều là 100.000đồng, cụ thể bán ngày 08/4/2024, Thoáng bán cho A1 và Hoàng Văn K1 mỗi người 01 (Một) gói má tuý. Từ ngày 09 đến 11/4/2024, T bán cho mỗi người 03 gói/ngày vào khoảng 06 giờ, 11 giờ và 18 giờ. Cân tiểu ly L3 đưa để T cân ma tuý, việc T bán ma tuý cho L3 được L3 trả công bằng cách thức nuôi ăn, ở và sử dụng gói ma tuý. Dao tem và giấy là của T, T sử dụng để cắt giấy gói ma tuý. Bị cáo liên hệ với L3 bằng điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh nhưng không lưu lại số điện thoại của L3.
Bị cáo Phùng Đình T1 khai: bị cáo làm công nhân tại Khu công nghiệp S, thị xã Q. Số ma tuý bị thu giữ bị cáo có là do được trả công hàng ngày (nuôi ăn 2 bữa và 02 gói ma tuý trị giá mỗi gói 100.000đồng). Việc trả công thông qua Lò Văn T là người quản lý công nhân, bị cáo chỉ không biết thông in, lai lịch lai lịch của L3.
Người chứng kiến Bùi Đức L2 và Vũ Thị M đều khai: khoảng 22 giờ 35 phút ngày 11/4/2024 ông/bà đi qua đoạn đường thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh thì được Công an mời chứng kiến việc kiểm tra hành chính đối với Phùng Đình T1 phát hiện và thu giữ trong ví da màu nâu tại túi áo ngực trái của T1 02 (Hai) gói giấy màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng. Phùng Đình T1 khai đó là ma tuý (H1) T1 cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Người chứng kiến Nguyễn Quang Dvà Đoàn Quang Cđều khai: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/4/2024 các ông được Cơ quan Công an mời chứng kiến việc kiểm tra hành chính và thu giữ vật chứng như nội dung vụ án đối với Lò Văn T, T khai nhận đó là số ma tuý (H1) Thoáng cất giấu nhằm mục đích để bán.
Người làm chứng Hoàng Văn K1 và A m đều có lời khai thể hiện: mỗi người đã 10 lần mua ma tuý của Lò Văn T tại nhà trọ thuộc thôn G, xã S, thị xã Q vào các ngày 08 đến 11/4/2024, cả 10 lần mua (mỗi lần 100.000đồng) đều chưa trả tiền cho T vì có người quản lý trả công, để sử dụng trừ vào tiền công lao động của các anh hàng ngày. Thông tin cụ thể về L3 thì anh K1 và A M1 đều không biết.
Phần tranh luận:
- - Các bị cáo không tranh luận.
- - Luật sư Đào Bá Y tranh luận: Lời khai của bị cáo Lò Văn T trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo Phùng Đình T1 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lò Văn T là đúng người, đúng tội. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật hạn chế nên trong thời gian ngắn đã nhiều lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý nhưng số lượng ít. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b, h khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời nói sau cùng: Cả 2 bị cáo đều nhận thức được hành vi mua bán và tàng trữ trái pháp chất ma tuý là vi phạm pháp luật, ân hận về việc làm của mình và cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật, sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn T về việc bán trái phép ma túy tổng số 24 lần cho A M1, Hoàng Văn K1 và Phùng Đình T1 phù hợp với lời khai của bị cáo Phùng Đình T1 và người làm chứng A M1 và Hoàng Văn K1 về việc mua ma tuý trái phép của Lò Văn T; Lời khai của bị cáo Lò Văn T còn phù hợp với lời khai của anh Đoàn Quang C và Nguyễn Quang D chứng kiến Cơ quan công an thu giữ vật chứng của T; lời khai của Phùng Đình T1 phù hợp với lời khai của ông Bùi Đức L2 và bà Vũ Thị M về việc chứng kiến việc kiểm tra hành chính đối với Phùng Đình T1, phát hiện T1 cất giấu ma tuý để sử dụng cho bản thân. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nội dung Biên bản kiểm tra hành chính lập hồi 22 giờ 45 phút ngày 11/4/2024 tại thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp lập ngày 12/4/2024 tại thôn F, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Biên bản xác định vị trí; Bản ảnh xác định vị trí; Sơ đồ hiện trường; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định; Bản ảnh; Bản ảnh vật chứng; Quyết định trưng cầu giám định và các Kết luận giám định.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận:
1. Về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của của Lò Văn T: Trong các ngày 08 đến 11/4/2024, tại phòng trọ của Lò Văn T thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (chủ nhà là anh Đoàn Quang C), Lò Văn T đã có hành vi bán trái phép ma tuý 24 lần (mỗi lần 100.000đồng/gói đều chưa nhận được tiền bán ma tuý) cho A M1, Hoàng Văn K1 và Phùng Đình T1, cụ thể:
- - Ngày 08/4/2024, bán 02 gói ma tuý (bán cho Aman 01 gói hồi 21 giờ 30 phút; bán cho K1 01 gói hồi 22 giờ);
- - Ngày 09/4/2024, bán 06 gói ma tuý [bán cho A M1 03 gói (vào 06 giờ 15 phút; 11 giờ 10 phút và 18 giờ) và bán cho K1 03 gói (vào 06 giờ 25 phút; 11 giờ 30 phút và 18 giờ 15 phút)];
- - Ngày 10/4/2024, bán 06 gói ma tuý [bán cho A M1 04 gói (vào 06 giờ; 11 giờ 10 phút và 18 giờ); bán cho K1 03 gói (vào 06 giờ 15 phút; 11 giờ 20 phút và 18 giờ 10 phút)];
- - Ngày 11/4/2024, bán 06 gói ma tuý [bán cho A M1 03 gói (vào 06 giờ 05 phút; 11 giờ 00 phút và 18 giờ 10 phút) và bán cho K1 03 gói (vào 06 giờ 20 phút; 11 giờ 20 phút và 18 giờ 20 phút)];
- - Ngày 10 và 11 tháng 4/2024 bán cho Phùng Đình T1 04 gói ma tuý (vào hồi 06 giờ 30 phút và 18 giờ 30 phút).
Ngoài ra, Lò Văn T còn cất giấu 5,472gam ma tuý (loại Heroine) nhằm mục đích để bán nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ.
2. Về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của Phùng Đình T1: Khoảng 22 giờ 35 phút, ngày 11/4/2024 tại đoạn đường thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Phùng Đình T1 có hành vi tàng trữ 0,206 gam ma tuý (loại Heroine) trong ví da tại túi ngực trái áo đang mặc mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì phát hiện, thu giữ vật chứng.
Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...
c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
“Điều 251. Tội mua bán phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm
a)
b) Phạm tội 02 lần trở lên.
...
h) Heroine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.”
[3] Tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Lò Văn T và hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Phùng Đình T1 là vi phạm pháp luật, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy là chất bị Nhà nước tuyệt đối cấm sử dụng trong đời sống xã hội; hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Phùng Đình T1 để sử dụng và hành vi bán trái phép ma tuý nhiều lần, liên tục của Lò Văn T cho các đối tượng làm công nhân trong Khu công nghiệp làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp, gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thị xã Q đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn mua bán trái phép, tàng trữ trái phép nhằm thu lợi và thỏa mãn nhu cầu bất chính của cá nhân thể hiện sự coi thường pháp luật, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: cả 2 bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hướng xử lý: Đối với Phùng Đình T1 tàng trữ lượng ma tuý 0,206 gam (loại Heroine) mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì phát hiện, thu giữ vật chứng. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự do đó xét xử bị cáo mức án đầu khung hình phạt là phù hợp. Bị cáo Lò văn T3 trong một thời gian ngắn, bán nhiều lần ma tuý ngoài ra còn tàng trữ lượng ma tuý 5,472 gam (Heroine) mục đích để bán. Xét đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị mức hình phạt chưa đủ sức răn đe đối với bị cáo Lò Văn T, cần xét xử nghiêm đối với bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
Người đàn ông tên L3 mà T khai đã điều hành T đi nhận và bán ma tuý và người đàn ông tên C1 mà T khai đã giao ma tuý cho T đều không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, HĐXX không xem xét giải quyết.
Anh Đoàn Quang C không biết việc Lò Văn T thuê nhà trọ mà bán trái phép chất ma tuý, Cơ quan điều tra xác định anh C không phải chịu trách nhiệm hình sự; HĐXX không đề cập, giải quyết.
[5] Vật chứng: 01 (một) phong bì số 525/KL-KTHS ngày 19/4/2024 và 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 521/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh Q; 01 lưỡi dao cạo râu; 10 tờ giấy màu trắng có kích thước khác nhau là vật cấm tàng trữ, lưu hành; là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Chiếc cân thu giữ của bị cáo Lò Văn T đã tiêu huỷ, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không áp dụng.
[7] Về án phí: Bị cáo Phùng Đình T1 phải chịu theo quy định của pháp luật. Bị cáo Lò Văn T là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi khu vực III của tỉnh Sơn La phân theo trình độ phát triển thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b, h khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Lò Văn T phạm tội “Mua bán phép chất ma túy trái”.
Xử phạt: L4 (T4) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 12/4/2024
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Phùng Đình T1 phạm tội “Tàng trữ phép chất ma túy”.
Xử phạt: P (Mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 12/4/2024
Vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì số 525/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh Q và 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 521/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh Q; 01 lưỡi dao cạo râu; 10 tờ giấy màu trắng có kích thước khác nhau và 01 sim điện thoại.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đã cũ của Lò Văn T.
(Tình trạng thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên).
Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phùng Đình T1 chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lò Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thanh Tâm |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Th (cđp) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
