Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 27-9-2024

"V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hải và bà Nguyễn Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Thị Tường Vi– là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Tâm.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 129/2024/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”.Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: ông Lê Tấn T, sinh năm: 1966

- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1967

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước

(Nguyên đơn có mặt. Bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 4 năm 2024, nguyên đơn ông Lê Tấn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông với bà Nguyễn Thị Y chung sống từ năm 1988 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, vì lý do không hiểu biết quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống ông với bà Y có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn trầm trọng, ông và bà Y đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, nay ông không thể tiếp tục chung sống với bà Y, ông yêu cầu Toà án không công nhận quan hệ giữa ông với bà Y là vợ chồng.

Về con chung: Ông với bà Y có 02 người con chung, họ tên là Lê Tấn Đ sinh năm 1992 và Lê Tấn H sinh năm 1989. Các con chung đã thành niên nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng và nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại bản tự khai bị đơn bà Nguyễn Thị Y trình bày: Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Lê Tấn T tự nguyện chung sống từ năm 1988 có đăng ký kết hôn tại ấp E, xã Q, huyện T, tỉnh Long An đã thất lạc, bà và ông T chung sống từ năm 1988 đến năm 2020 không có mâu thuẫn gì. Đến năm 2020 ông T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác đã có chồng và một đứa con tại thôn F cùng xã, bà có bắt quả tang có bằng chứng và hình ảnh, hứa sẽ không tái phạm nhưng hai người vẫn tiếp tục qua lại với nhau vì lý do này mà ông T yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng. Bà có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện T, tỉnh Long An vào năm 1988 (ngày tháng cụ thể không nhớ), bà sẽ trích lục đăng ký kết hôn trong thời gian sớm nhất. Bà và ông T sống ly thân từ năm 2020 đến nay, hiện tại không còn tình cảm với nhau. Bà không đồng ý với ý kiến ly hôn của ông T. Bà không đồng ý với ý kiến ông H về không công nhận quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Có 02 người con chung Lê Tấn H sinh năm 1989 và Lê Tấn Đ sinh năm 1991.Về con chung đã thành niên không đề cập vấn đề cấp dưỡng.

Về tài sản, nợ chung: tự thỏa thuận.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn ông T trình bày: Ông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên không công nhận quan hệ giữa ông với bà Y là vợ chồng. Về con chung đã thành niên nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng và nuôi dưỡng. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tại phiên tòa: Về thủ tục tố tụng: Thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T. Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Lê Tấn T và bà Nguyễn Thị Y là vợ chồng. Về con chung: Đã thành niên nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng và nuôi dưỡng. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông T và bà Y chung sống nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nguyên đơn ông T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với bị đơn bà Y. Ông T và bà Y có nơi cư trú tại thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình, xác định quan hệ pháp luật “Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn bà Y đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông T yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với bà Y:

Xét thấy, ông T và bà Y tự nguyện chung sống từ năm 1988 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà Y không được pháp luật công nhận là vợ chồng, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Trong thời gian chung sống xảy ra mâu thuẫn, hiện nay ông T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với bà Y. Căn cứ vào Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông T, tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Lê Tấn T và bà Nguyễn Thị Y là vợ chồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà Y cho rằng bà và ông T chung sống tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Long An vào năm 1988; bà Y còn trình bày bà sẽ trích lục giấy kết hôn trong thời gian sớm nhất. Tòa án đã giao Thông báo về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ số 81/2024/TB-TA, ngày 30/7/2024 về việc yêu cầu bà Y cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh bà và ông T có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, tuy nhiên đến nay bà Y không cung cấp được. Mặt khác, tại công văn số 587/UBND-TPHT, ngày 27/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Long An trả lời phúc đáp như sau: Qua kiểm tra phần mềm hộ tịch đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Long An. UBND xã Q không tìm thấy thông tin đăng ký kết hôn của ông Lê Tấn T sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Y sinh năm 1967. Vì vậy, xác định ông T và bà Y tự nguyện chung sống từ năm 1988 nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trình bày của bà Y về việc bà và ông T chung sống có đăng ký kết hôn là không đúng, không được chấp nhận.

[3] Về con chung: Ông T với bà Y có 02 người con chung, họ tên là Lê Tấn Đ sinh năm 1992 và Lê Tấn H sinh năm 1989. Các con chung đã thành niên, các bên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng và nuôi dưỡng nên không xem xét, giải quyết.

[4]Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

[7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tấn T. Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Lê Tấn T và bà Nguyễn Thị Y là vợ chồng.
  2. Về con chung: Ông T với bà Y có 02 người con chung, họ tên là Lê Tấn Đ sinh năm 1992 và Lê Tấn H sinh năm 1989. Các con chung đã thành niên, các bên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng và nuôi dưỡng nên không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu, không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc nguyên đơn ông Lê Tấn T phải nộp 300.000đ án phí HNGĐ – ST được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 300.000₫ theo Biên lai số 0009305, ngày 25/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi Nhận:

- TAND tỉnh Bình phước;

- VKSND huyện Bù Đăng;

- CC THADS huyện Bù Đăng;

- Đương sự;

- Lưu HS.

- TAND tỉnh

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HNGĐ – ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 100/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger