Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-8-2024

V/v: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Anh Tuấn.
  • 2. Bà Nguyễn Thị Phượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 348a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 401/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thúy M - sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L - sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, Đồng Tháp.

(Tất cả các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 22/01/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị Thúy M trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận kết hôn số 13 KHTP, quyển số 01 - 2007 cấp ngày 06 tháng 02 năm 2007.

Trong quá trình chung sống với nhau thì chị M nhận thấy vợ chồng có nhiều quan điểm bất đồng, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên đã không còn sống chung với nhau, cả hai cũng đã có cuộc sống riêng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không có hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Thị Linh Đ - sinh ngày 02/9/2006, con chung đang sống cùng với chị M. Khi ly hôn, chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị M xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai và cũng không cho ai nợ.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng các giấy triệu tập hợp lệ nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh L.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn giao nộp bao gồm: Bản photo Giấy CCCD của chị M, Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao giấy khai sinh con chung. Ngoài ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn, nuôi con chung và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh Nguyễn Văn L hiện đang cư trú tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do; căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với anh L.

[4] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của chị Lê Thị Thúy M về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Văn L và được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, Hội đồng xét xử nhận định:

[5] Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 13KHTP, quyển số 01-2007, do Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 06/02/2007 của đã thể hiện chị Lê Thị Thúy M và anh Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M vào ngày 06/02/2007, như vậy đã có đủ cơ sở xác định mối quan hệ hôn nhân của chị M và anh L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[6] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giải thích, hòa giải, động viên đương sự đoàn tụ gia đình, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, chị M cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, vợ chồng đã không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm vợ chồng cũng không còn, không thể đoàn tụ được; do đó, chị M giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh L. Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa sơ thẩm nhưng anh L không tham dự, chứng tỏ anh L đã bỏ mặc và không còn quan tâm đến quyền và nghĩa vụ của mình trong mối quan hệ với chị M.

[7] Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh L có tồn tại mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không đạt được mục đích như quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình nên không thể kéo dài. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của chị M về việc xin ly hôn với anh L là có cơ sở nên chấp nhận.

[8] Về con chung: Chị M xác định giữa chị và anh L có một con chung tên Nguyễn Thị Linh Đ - sinh ngày 02/9/2006, chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy con chung đang sống cùng chị M, được đảm bảo cuộc sống ổn định về tinh thần lẫn vật chất, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Bởi lẽ đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị M; giao con chung Nguyễn Thị Linh Đ - sinh ngày 02/9/2006 cho chị Lê Thị Thúy M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

[9] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cấp dưỡng cho con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị M không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con; do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về tài sản chung: Chị M xác định vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết.

[11] Về nợ chung: Chị M xác định vợ chồng không có mượn nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ nên không yêu cầu giải quyết.

[12] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; chị Lê Thị Thúy M phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Thúy M.

  1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thúy M được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Linh Đ - sinh ngày 02/9/2006, L1 cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung: Chị M xác định vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết.
  4. Về nợ chung: Chị M xác định vợ chồng không có mượn nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ nên không yêu cầu giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Lê Thị Thúy M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị M đã nộp theo biên lai thu số 0008309 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; như vậy chị Lê Thị Thúy M đã nộp xong án phí.
  6. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKS HCL;
  • - Các đương sự;
  • - CCTHADS HCL;
  • - Ủy ban xã Mỹ Quí, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Trương Trường Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger