|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST Ngày 22-8-2024 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Kiệt.
- Bà Nguyễn Tất Ái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Lễ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 341/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Phạm Thị Cẩm H, sinh năm 1977 (Xin vắng mặt).
- Địa chỉ: Số A ấp C, xã Đ, TP M, tỉnh Tiền Giang.
- Địa chỉ liên lạc: Số B, ấp C, xã Đ, TP M, tỉnh Tiền Giang.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Số A ấp C, xã Đ, TP M, tỉnh Tiền Giang.
- Địa chỉ liên lạc: Số B, ấp C, xã Đ, TP M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Phạm Thị Cẩm H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T sống chung 20 năm, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2004.
Thời gian đầu, anh T cũng lo làm ăn. Sau khi chị sinh thêm con thứ hai là bé T1 thì anh T lao vào con đường ăn chơi khiến cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, do tính cách, xử sư của anh T không hòa hợp trong gia đình, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Anh T thường xuyên nhậu nhẹt, rồi bán tài sản trong gia đình. Kinh tế trong gia đình do chị gánh vát, anh T không cùng chị nuôi dạy con cái. Mặc dù đã nhiều lần cho anh T cơ hội để hàn gắn hạnh phúc nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân nhiều năm. Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên yêu cầu giải quyết:
- -Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Cẩm H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- -Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Đức M, sinh năm 2006 (trưởng thành) và Nguyễn Đức T1, sinh năm 2012. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Từ lúc chị sinh cháu T1 thì anh T cũng không có trách nhiệm đối với cháu, không phụ giúp kinh tế cho chị nuôi con, vợ chồng đã ly thân 10 năm nay.
- -Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- -Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Văn T: Đã được toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật, nhưng vẫn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Chị Phạm Thị Cẩm H xin vắng mặt. Anh Nguyễn Văn T vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều thực hiện đúng theo trình tự do Bộ luật tố tụng quy định. Bị đơn chưa thực hiện đúng sự triệu tập của Toà án.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Cẩm H là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Chị Phạm Thị Cẩm H và anh Nguyễn Văn T hôn nhân có thực hiện đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Ngày 19/6/2024 chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh T, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố M, Tiền Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
[1.2] Sự có mặt của đương sự: Bị đơn Nguyễn Văn T đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về chứng cứ chứng minh: Xét thấy, anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, nhưng không có ý kiến gì về các chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của chị H. Nên căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91, 92, 94 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, các chứng cứ Tòa án thu thập và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Cẩm H và anh Nguyễn Văn T tự nguyện đi đến hôn nhân, hôn nhân có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, cấp giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/2004 ngày 23/6/2004. Hội đồng xét xử xác định, hôn nhân giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp. Chị H yêu cầu ly hôn với anh T, vì chị cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung, anh T không chí thú làm ăn mà còn gây nợ, chị đã cố hàn gắn tình cảm và cho cơ hội thay đổi nhưng anh T không thay đổi, đã ly thân khoảng 10 năm nay. Xét thấy, chị H xin vắng mặt phiên xét xử và vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, cho thấy chị H đã kiên quyết ly hôn với anh T. Ngoài ra, từ khi chị H khởi kiện ly hôn đến nay, phía anh T cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm với chị H, không trình bày nguyện vọng muốn đoàn tụ. Thời gian vợ chồng ly thân đã lâu nhưng cả hai không giải quyết được mâu thuẫn, hàn gắn được. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, hôn nhân giữa chị H và anh T mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
[4] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 02 con chung là Nguyễn Đức M, sinh năm 2006 (trưởng thành) và Nguyễn Đức T1, sinh năm 2012. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng.
[4.1]Xét thấy, từ khi anh chị ly thân đến nay, con chung là cháu T1 sống cùng với chị H, cháu vẫn phát triển bình thường. Từ khi chị H khởi kiện đến nay, anh T cũng không có ý kiến trình bày về nguyện vọng muốn trực tiếp nuôi con chung, anh T không tranh chấp về quyền nuôi con. Tại biên bản xác minh ngày 19/6/2024 Ủy ban nhân dân xã Đ cho rằng, do trong quá trình sống chung, vợ chồng chị H và anh T không yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết về mâu thuẫn vợ chồng nên nay anh chị ly hôn, địa phương không biết được điều kiện nuôi con chung giữa anh chị. Tại bản khai ngày 18/6/2024 cháu T1 có nguyện vọng được sống cùng mẹ là chị H trong trường hợp cha mẹ ly hôn. Xét thấy, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và ổn định của con chung, tôn trọng nguyện vọng của trẻ, cũng như ý chí mong muốn được nuôi con của chị H, Hội đồng xét xử thấy rằng, cần giao con chung cho mẹ là chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi và lao động được.
[4.2] Về yêu cầu cấp dưỡng, chị H yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Xét thấy, phía anh T đã nhận được thông báo về yêu cầu của chị H nhưng cũng không có ý kiến phản đối gì về số tiền cấp dưỡng. Do yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con với mức 3.000.000 đồng/tháng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và lao động được.
[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình.
[8] Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 92, 94, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Cẩm H.
- - Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Cẩm H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức T1, sinh ngày 02/4/2012 cho chị Phạm Thị Cẩm H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi và lao động được, anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng từ khi bản án hôn nhân gia đình có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Nguyễn Đức T1 đủ 18 tuổi lao động được.
Kể từ ngày bản án hôn nhân gia đình có hiệu lực pháp luật và khi chị H có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền cấp dưỡng, nếu anh T chậm thi hành án, thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Phạm Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006300 ngày 19/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên xem như đã nộp xong án phí. Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Cẩm H và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Sắc Ly |
Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa chị Phạm Thị Cẩm H và anh Nguyễn Văn T
