|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11/9/2024. V/v tranh chấp “ Ly hôn giữa chị Trần Thị Q với anh Lê Văn D". |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Thanh Huỳnh .
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phạm Hồng Lưu.
- 2. Bà Nguyễn Thị Huệ.
Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Hồng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên toà:
Ông Lưu Quốc Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2024/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 365/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Q, sinh năm 1983.
- Địa chỉ số E, ấp T, xã T, huyện C, TP ..
- - Bị đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1980.
- Địa chỉ số C, ấp T, xã T, huyện C, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 25 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Q trình bày: Năm 2001, do mai mối và sau thời gian tìm hiểu chị và anh Lê Văn D được hai gia đình tổ chức lễ cưới, đến năm 2008 đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc và có 03 con chung Lê Thị Thùy T, sinh năm 2002, đã trưởng thành, cháu Lê Thị Ngọc Đ, sinh ngày 22/6/2007, cháu Lê Gia B, sinh ngày 07/5/2021, hiện cháu Đ và cháu B đang sống cùng với chị. Thời gian sau vợ chồng bắt đầu phát sinh mẫu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải, anh D nhiều lần xúc phạm và đánh đập chị, từ đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay, tình cảm vợ, chồng không còn, vợ chồng không hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh D.
- Về con chung và nuôi con chung: Cháu Lê Thị Thùy T đã trưởng thành, riêng hai cháu Lê Thị Ngọc Đ, sinh ngày 22/6/2007 và cháu Lê Gia B, sinh ngày 07/5/2021, hiện hai cháu đang sống cùng với chị nên chị yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi hai cháu đến tuổi trưởng thành.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Văn D trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về thời gian tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung, nghĩa vụ chung. Chị Q yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý và cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn, anh thừa nhận có đánh đập, xúc phạm chị nhưng cho rằng vợ chồng cự cải lúc nóng giận không kiềm chế là chuyện bình thường, anh yêu cầu được đoàn tụ. Trường hợp vợ, chồng ly hôn anh đồng ý giao cháu Lê Gia B, sinh ngày 07/5/2021 và cháu Lê Thị Ngọc Đ, sinh ngày 22/6/2007 cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh không cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Lê Thị Thùy T, sinh năm 2002 đã trưởng thành. Tài sản chung, nghĩa vụ chung anh thống nhất không có.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Q. Cho ly hôn giữa chị với anh Lê Văn D;
- Về con chung: Vợ, chồng có 03 con chung cháu Lê Thị Thùy T, sinh năm 2002 đã trưởng thành, cháu Lê Thị Ngọc Đ, sinh ngày 22/6/2007 và cháu Lê Gia B, sinh ngày 07/5/2021. Công nhận anh D đồng ý giao cháu Đ và cháu B cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành, chị Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Chị Q và anh D xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng dân sự: Theo đơn khởi kiện của chị Trần Thị Q thì quan hệ tranh chấp của vụ án là “ Ly hôn”. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên vợ, chồng hàn gắn, đoàn tụ nhưng không thành nên cần đưa vụ án ra xét xử.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị Q và anh Lê Văn D là hợp pháp. Chị Q và anh D tự nguyện tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ, chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ, chồng bất đồng quan điểm sống, vợ, chồng thường xuyên cự cãi, anh D nhiều lần xúc phạm và có hành vi bạo lực gia đình đối với chị Q dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Trong khi đó anh D yêu cầu được đoàn tụ nhưng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị Q và anh D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Q, cho chị được ly hôn với anh D là phù hợp.
[3] Về con chung và nuôi con chung: Chị Q và anh D xác định vợ, chồng có 03 con chung Lê Thị Thùy T, sinh năm 2002, đã trưởng thành, cháu Lê Thị Ngọc Đ, sinh ngày 22/6/2007, cháu Lê Gia B, sinh ngày 07/5/2021. Công nhận anh D đồng ý giao cháu Đ và cháu B cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành, chị Q không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Vợ, chồng chị Q và anh D xác định không có.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Q phải nộp 300.000đồng án phí theo mục 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Q. Cho ly hôn giữa chị Q và anh Lê Văn D.
-
Về con chung và nuôi con chung: Vợ, chồng chị Q và anh D xác định có 03 con chung Lê Thị Thùy T, sinh năm 2002, đã trường thành, cháu Lê Thị Ngọc Đ, sinh ngày 22/6/2007, cháu Lê Gia B, sinh ngày 07/5/2021. Giao cháu Đ và cháu B cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành, chị Q không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh D không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, anh D không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu có thì chị Q có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Vợ, chồng chị Q và anh D xác định không có.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0008129 ngày 08 tháng 7 năm 2024 thành tiền án phí.
Phiên tòa xét xử công khai, tuyên án có mặt nguyên đơn, bị đơn.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Đào Thanh Huỳnh |
Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ về ly hôn
- Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Q. Cho ly hôn giữa chị Q và anh Lê Văn D.
