|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 100/2024/DS-ST Ngày: 30-9-2024 “V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Biện Việt Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Ngọc Thơm.
2. Ông Võ Thanh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 115/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc L, sinh năm: 1978;
Địa chỉ: Khu phố E, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phan Thanh H, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/5/2024 được Văn phòng C số công chứng: No 1627, quyển số 05/2024 TP/CC-SCC/HĐGD);
- Bị đơn: Ông Lê Thành T, sinh năm: 1976 và bà Phan Thị H1, sinh năm: 1979;
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2024, quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Thanh H trình bày:
Tại đơn khởi kiện, bà L trình bày rằng bà và vợ chồng ông Lê Thành T, bà Phan Thị H1 có mối quan hệ quen biết từ trước. Bà L đã nhiều lần cho vợ chồng ông T, bà H1 vay tiền để lấy vốn làm ăn. Đầu năm 2018, bà Phan Thị H1 cho biết hiện đang sở hữu diện tích đất là 30.034m², tọa lạc tại thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Diện tích này bao gồm 4 thửa đất với tổng diện tích 16.534m² đã có giấy chứng nhận (đang thế chấp tại Ngân hàng A - Chi nhánh L1) và 1 thửa đất có diện tích 13.500m² chưa có giấy chứng nhận. Do khoản vay của vợ chồng bà H1, ông T tại ngân hàng đã đến hạn nhưng bà H1 không có khả năng trả nợ, bà H1 đã đề nghị bà L mua 5 thửa đất trên với giá chuyển nhượng là 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng), và bà L đồng ý mua. Tuy nhiên, do 4 giấy chứng nhận đang thế chấp tại ngân hàng, nên bà L đã thanh toán trước 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) để vợ chồng ông T, bà H1 làm thủ tục đáo hạn ngân hàng, xóa đăng ký thế chấp. Số tiền còn lại 350.000.000 đồng sẽ được thanh toán khi hai bên công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Khoảng vài ngày sau khi giao tiền, bà L gặp bà H1 để hỏi về việc đáo hạn ngân hàng, nhưng bà H1 cho biết đã sử dụng số tiền 500.000.000 đồng mà bà L đã đưa để trả nợ cho người khác. Bà H1 sau đó đề nghị bà L đưa tiếp 850.000.000 đồng để bà H1 đáo hạn ngân hàng. Trước tình huống đó, bà L phải vay mượn tiền và chỉ có được 800.000.000 đồng, còn bà H1 góp thêm 50.000.000 đồng, rồi hai bên cùng nhau đến ngân hàng để lấy sổ. Sau khi xóa đăng ký thế chấp, ngày 22/3/2018, hai bên đã đến Văn phòng C1 để lập hợp đồng chuyển nhượng 4 thửa đất đã có giấy chứng nhận. Riêng thửa đất chưa có giấy chứng nhận thì hai bên chuyển nhượng bằng giấy tay. Như vậy, trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên, bà L đã thanh toán cho vợ chồng ông T, bà H1 tổng cộng số tiền 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng). Sau khi trừ đi số tiền chuyển nhượng thực tế là 850.000.000 đồng, vợ chồng ông T, bà H1 còn nợ bà L 450.000.000 đồng. Bà H1 nói rằng bà L đã mua đất với giá rẻ nên xin bà L giảm cho 50.000.000 đồng, và bà L đã đồng ý. Vì vậy, ngày 23/3/2018, bà L viết Giấy nhận nợ, xác định bà Phan Thị H1 còn nợ bà số tiền 400.000.000 đồng và hẹn trả sau thời hạn 3 năm kể từ ngày 23/3/2018. Tuy nhiên, sau đó vài ngày, bà H1 cho rằng trong giấy bà L viết không thể hiện rõ việc trả nợ làm một lần hay trả làm nhiều lần, nên đề nghị hai bên viết lại giấy khác. Bà H1 đã tự viết Giấy hẹn nợ và trả nợ mới, đề ngày 24/3/2018, nội dung xác định bà Phan Thị H1 còn nợ bà L số tiền 400.000.000 đồng, hẹn trả sau 3 năm tính từ ngày 24/3/2021, mỗi năm trả 100.000.000 đồng và sẽ trả dứt nợ vào ngày 24/3/2023. Việc bà H1 thiếu nợ bà L số tiền 400.000.000 đồng nói trên cũng được vợ chồng ông T, bà H1 thừa nhận trong Bản án sơ thẩm số 26/2020/DS-ST ngày 24/12/2020 của TAND thị xã La Gi và Bản án phúc thẩm số 97/2022/DS-PT ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. Đến nay, đã quá thời hạn trả nợ ấn định, nhưng ông Lê Thành T và bà Phan Thị H1 vẫn chưa trả nợ cho bà L đồng nào. Vì vậy, bà L đề nghị Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận giải quyết, buộc vợ chồng ông Lê Thành T và bà Phan Thị H1 phải trả cho bà số tiền 439.840.000 đồng (Bốn trăm ba mươi chín triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng), trong đó bao gồm 400.000.000 đồng tiền nợ gốc và 39.840.000 đồng tiền lãi chậm thanh toán tạm tính.
Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện buộc ông Lê Thành T và bà Phan Thị H1 phải trả cho bà L số tiền 400.000.000 (Bốn trăm triệu đồng) gốc và tiền lãi tính từ ngày 25/3/2023 tạm tính đến ngày xét xử 30/9/2024 là 400.000.000 đồng x 10%/năm x 1 năm 06 tháng 05 ngày = 60.313.000 đồng. Tổng cộng số tiền yêu cầu ông T và bà H1 phải trả là 460.313.000 đồng.
* Bị đơn ông Lê Thành T và bà Phan Thị H1 vắng mặt không có lý do.
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật, đồng thời thu thập tài liệu, chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều này đảm bảo cho việc ban hành các quyết định và bản án theo đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thể hiện tính vô tư, khách quan trong quá trình xét xử. Kiểm sát viên đã phát biểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng. Theo đó, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của bị đơn thì từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử bị đơn nhiều lần đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai, chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn không hợp tác, không đến Tòa án vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Lê Thành T và bà Phan Thị H1 phải trả cho bà Phạm Thị Ngọc L số tiền 400.000.000 gốc và tiền lãi tính từ ngày 25/3/2023 tạm tính đến ngày xét xử 30/9/2024 theo mức lãi suất 10%/năm. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Phạm Thị Ngọc L có đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Lê Thành T và bà Phan Thị H1 đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lê Thành T và bà Phan Thị H1 cư trú tại khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận theo điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của bị đơn, từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, ông Lê Thành T và bà Phan Thị H1 đã nhiều lần được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, ông T và bà H1 không hợp tác và không đến Tòa án. Như vậy, ông T và bà H1 đã tự khước từ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng giữa các đương sự xác lập vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
Về quan hệ pháp luật: Trong vụ án, chỉ có yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả khoản tiền vay phát sinh từ giao dịch dân sự vay tài sản mà hai bên đã xác lập theo hợp đồng vay tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463 của Bộ luật Dân sự, nhận định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản” là đúng pháp luật.
Về chứng cứ: Tại phiên tòa, các đương sự không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì mới. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
[3] Về nội dung vụ án:
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thu thập được thể hiện: Tại 2 giấy nhận nợ bản photo do bà L cung cấp, đều thể hiện việc bà L cho bà Phan Thị H1 vay số tiền 400.000.000 đồng. Hợp đồng này có thỏa thuận về thời hạn vay, nhưng không có thỏa thuận lãi suất và mục đích vay. Giấy vay tiền này có chữ ký và chữ viết của bà H1. Như vậy, có cơ sở xác định rằng giữa các bên đã thỏa thuận thực hiện hợp đồng vay tài sản, và hợp đồng này đã được lập thành văn bản. Đây là hợp đồng có thỏa thuận về thời hạn vay, không có tài sản đảm bảo, không có thỏa thuận lãi suất và không có mục đích vay, được quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự. Tại thời điểm giao kết, các chủ thể tham gia ký kết đều có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Hình thức của hợp đồng được lập bằng văn bản, nội dung thỏa thuận trong hợp đồng dựa trên nguyên tắc tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, và phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự, nên hợp đồng này có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Bà L không cung cấp được bản gốc 2 giấy nhận nợ, nhưng ngoài 2 giấy nhận nợ bản photo, bà L còn cung cấp thêm 2 bản photo công chứng Bản án sơ thẩm số 26/2020/DS-ST ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi và Bản án phúc thẩm số 97/2022/DS-PT ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ mà bà L đã tố cáo bị đơn ở Cơ quan điều tra Công an thị xã L. Mặc dù 2 giấy nhận nợ chỉ có chữ ký của bà H1, nhưng tại hai bản án và các biên bản lấy lời khai của ông T và bà H1 tại Cơ quan điều tra, cả ông T và bà H1 đều thừa nhận việc ông T và bà H1 có nợ bà L số tiền 400.000.000 đồng và thời hạn trả là 3 năm kể từ ngày 24/3/2021 đến ngày 24/3/2023. Xét thấy, ông T thừa nhận có nợ bà L và đây là khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông T, bà H1 nên đủ cơ sở để xác định đây là nợ chung của ông T, bà H1.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T, bà H1 đã nhiều lần được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên, ông T, bà H1 không hợp tác, không đến Tòa án, và cũng không có ý kiến trình bày hay phản đối gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, ông T, bà H1 phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định rằng hợp đồng vay tài sản giữa bà L và ông T, bà H1 là có thật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, theo thỏa thuận tại giấy nhận nợ ngày 24/3/2018 bị đơn hẹn đến 24/3/2023 sẽ thanh toán nợ gốc 400.000.000 đồng cho bà L nhưng đến hạn trả tiền nhưng ông T, bà H1 không thực hiện đúng như thỏa thuận, như vậy ông T, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản được quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự. Nên yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ.
- Về tiền lãi: Theo thỏa thuận của các đương sự, thời hạn trả nợ là 3 năm, từ ngày 24/3/2021 đến ngày 24/3/2023. Ông T và bà H1 có nghĩa vụ hoàn trả lại tiền cho bà L, nhưng khi đến hạn, ông T và bà H1 không thực hiện việc trả nợ. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm thanh toán phát sinh trên số tiền gốc 400.000.000 đồng, tính từ ngày 25/3/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, với lãi suất 10%/năm là hoàn toàn có căn cứ. Yêu cầu này phù hợp với quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự. Như vậy, số tiền lãi mà ông T và bà H1 phải trả cho bà L, tạm tính từ ngày 25/3/2023 đến ngày xét xử 30/9/2024, là: 400.000.000 đồng x 10%/năm x 1 năm 06 tháng 05 ngày = 60.821.000 đồng. Nguyên đơn chỉ yêu cầu ông T và bà H1 trả 60.313.000 đồng, xét thấy số tiền này không vượt quá yêu cầu hợp lý nên được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, việc nguyên đơn khởi kiện ông T, bà H1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy số tiền ông T, bà H1 phải trả trả cho nguyên đơn tổng cộng là 460.313.000 đồng.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 91; Khoản 2 Điều 92; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 161; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 117; Điều 357; Điều 463; Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc L:
- Buộc ông Lê Thành T và bà Phan Thị H1 phải trả cho bà Phạm Thị Ngọc L số tiền là 460.313.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu ba trăm mười ba nghìn đồng). Trong đó, 400.000.000 đồng là tiền gốc và 60.313.000 đồng là tiền lãi.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Buộc ông Lê Thành T và bà Phan Thị H1 phải nộp 22.413.000 (Hai mươi hai triệu bốn trăm mười ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả bà Phạm Thị Ngọc L số tiền 10.797.000 đồng (Mười triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011457 ngày 01/4/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/9/2024). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Biện Việt Hùng |
Bản án số 100/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 100/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: việc nguyên đơn khởi kiện ông T, bà H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy số tiền ông T, bà H phải trả trả cho nguyên đơn tổng cộng là 460.313.000 đồng.
