Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 100/2024/DS-ST

Ngày 02/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Ngọc Tiến;
  2. Bà Đỗ Thị A.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương.

Trong ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 383/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam); Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Bà Nguyễn Phước Quỳnh G, sinh năm 2001. (theo Giấy ủy quyền ngày 01/11/2023) (có Đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Đặng Quốc L, sinh năm 1998; Địa chỉ thường trú: D Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện ngày 11/7/2023 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Phước Quỳnh G trình bày như sau:

Ngày 15/09/2022 Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty) ký Hợp đồng tín dụng số 3627675 về việc cấp tín dụng cho ông Đặng Quốc L với khoản vay trị giá 31.980.000₫ (Ba mươi mốt triệu, chín trăm tám mươi ngàn đồng). Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng cho ông Đặng Quốc L, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của ông L. Theo hợp đồng, ông L có trách nhiệm trả góp hàng

tháng trong thời hạn 24 tháng tương đương 24 kỳ (từ ngày 15/10/2022 đến ngày 15/9/2024) với mức lãi suất là 44%/năm. Trả góp vào ngày 15 hàng tháng, trong đó kỳ 1 là 2.037.976đ, kỳ 2 đến kỳ 23 là 2.037.976đ và kỳ 24 là 1.965.007₫.

Kể từ ngày được giải ngân đến nay ông Đặng Quốc L chỉ mới trả góp cho Công ty được 01 kỳ vào ngày 31/10/2022 với số tiền là 2.056.200đ. Trong đó: Tiền gốc là 869.439đ, T lãi là 1.156.537đ, P thu hộ là 12.000đ, L1 chậm trả là 18.224₫.

Từ ngày 01/11/2022 đến nay ông L đã không thực hiện nghĩa vụ trả góp theo hợp đồng đã ký kết với Công ty. Công ty đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu ông L thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho ông L biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, ông L vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho Công ty.

Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng ông L vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho Công ty nên Công ty đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L phải thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty với tổng số tiền 56.654.098đ tạm tính đến ngày 02/5/2024. Trong đó: Tiền gốc là 31.110.561đ, T lãi trong hạn là 14.460.022đ, T lãi quá hạn trên dư nợ gốc bị quá hạn là 9.814.056đ, T lãi do chậm trả lãi trong hạn là 1.269.459₫

- Yêu cầu ông Đặng Quốc L phải tiếp tục thanh toán tiền lãi quá hạn và tiền lãi do chậm trả tiền lãi trong hạn phát sinh từ ngày 03/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản vay.

*Bị đơn ông Đặng Quốc L: Vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Xét, theo Đơn khởi kiện đề ngày 11/7/2023 của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xét, theo Đơn yêu cầu ngày 09/11/2023 do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định bị đơn ông Đặng Quốc L có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại D Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:

Quá trình tố tụng, Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ cho bị đơn các văn bản tố tụng gồm thông báo thụ lý, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải...nhưng bị

đơn đều vắng mặt. Mặc khác, bị đơn cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình, không giao nộp các tài liệu chứng cứ cho Tòa án để thể hiện sự phản đối của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Tòa án giải quyết vụ án nêu trên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.

Tại phiên tòa, bị đơn tiếp tục vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nguyên đơn có Đơn xin xét xử vắng mặt tại Tòa án. Xét, sự vắng mặt của các đương sự không làm ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về yêu cầu trả tiền gốc và tiền lãi:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Vào ngày 15/9/2022 giữa Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty) và ông Đặng Quốc L có ký với nhau Hợp đồng tín dụng số 3627675, theo đó Công ty cho ông L vay số tiền 31.980.000đ, thời hạn vay là 24 tháng từ ngày 15/10/2022 đến ngày 15/09/2024, lãi suất áp dụng tại thời điểm giải ngân là 44%/năm, trả góp vào ngày 15 hàng tháng, trong đó kỳ 1 là 2.037.976đ, kỳ 2 đến kỳ 23 là 2.037.976đ và kỳ 24 là 1.965.007đ. Xét Hợp đồng tín dụng số 3627675 ngày 15/9/2022 được ký giữa Công ty với ông L có hình thức và nội dung phù hợp theo quy định tại Điều 117, 118 và 119 Bộ luật Dân sự nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đặng Quốc L chỉ mới trả góp cho Công ty được 01 kỳ vào ngày 31/10/2022 với số tiền là 2.056.200đ. Trong đó: Tiền gốc là 869.439 đ, T lãi là 1.156.537 đ, P thu hộ là 12.000 đ, L1 chậm trả là 18.224đ, và từ ngày 01/11/2022 cho đến nay thì ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo nội dung đã thỏa thuận trong Hợp đồng. Theo khoản 8.3 Điều 8 của Hợp đồng quy định“...Khi đến hạn thanh toán mà Khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận, thì ngoài việc trả lãi trên nợ gốc theo Lãi suất đã thỏa thuận thì Khách hàng còn phải chịu tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn và tiền lãi chậm trả...” nên yêu cầu của Công ty về việc buộc ông L phải trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn và tiền lãi do chậm trả lãi trong hạn là có cơ sở.

Theo khoản 3.7 Điều 3 và khoản 8.3 Điều 8 của Hợp đồng thì lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 44%/năm, lãi suất quá hạn là 150% x lãi suất tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và lãi suất do chậm trả tiền lãi trong hạn là 10%/năm. Xét, mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp theo quy định khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy, tính đến ngày 02/5/2024 ông L còn nợ Công ty E (Năm mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi bốn ngàn, không trăm chín mươi tám đồng). Trong đó:

+ Nợ gốc là 31.110.561₫

+ Tiền lãi quá hạn trên dư nợ gốc bị quá hạn (tính từ ngày vi phạm đến ngày 02/5/2024 trễ hạn 18 kỳ) là 9.814.056₫

+ Tiền lãi trong hạn (tính từ ngày vi phạm đến ngày 02/5/2024 trễ hạn 18 kỳ) là 14.460.022₫

+ Tiền lãi do chậm trả lãi trong hạn là 1.269.459₫

[2.3] Về thời hạn và phương thức trả nợ:

Xét khoản nợ mà ông L không trả cho Công ty đã quá thời hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng; và mặc dù đã được Công ty thực hiện nhiều biện pháp yêu cầu ông L có nghĩa vụ trả nợ nhưng ông L cố tình trốn tránh và kéo dài thời gian nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc ông L có nghĩa vụ trả một lần khoản tiền còn nợ nêu trên cho Công ty ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 233; Điều 227, 228 và 238; Điều 266; Điều 271, 273; Điều 278 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 117, 118 và 119 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Đặng Quốc L phải trả toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 02/5/2024 là 56.654.098₫ (Năm mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi bốn ngàn, không trăm chín mươi tám

đồng). Trong đó: Nợ gốc là 31.110.561đ, T lãi quá hạn là 9.814.056đ, T lãi trong hạn là 14.460.022, T lãi do chậm trả lãi trong hạn là 1.269.459₫

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Đặng Quốc L còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn, tiền lãi chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Đặng Quốc L phải chịu số tiền là 2.832.705₫ (Hai triệu, tám trăm ba mươi hai ngàn, bảy trăm lẻ năm đồng). H lại cho Công ty T1 1.030.328đ (Một triệu, không trăm ba mươi ngàn, ba trăm hai mươi tám đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0035520 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.

Các đương sự có thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • TAND Tp.HCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - Chi cục THADS Q.10;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bảo Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 100/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger