Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HS-ST

Ngày: 08 - 11 - 2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Giang
  2. Bà Lê Thị Thu Anh

Thư ký phiên tòa: bà Vũ Tú Uyên, thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà: ông Đặng Quang Quyết, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2023/TLST-HSST ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023; đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn H, tên gọi khác: không, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1994, tại huyện M, tỉnh Hà Giang. Nơi thường trú: thôn B, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang; chỗ ở: thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng.; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Thuận Thị Y; vợ: Hoàng Thị M; con: 01 con, sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 12/5/2023. Hiện tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Vũ Thị Q, tên gọi khác: không, sinh ngày 04 tháng 3 năm 1999, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: tổ E, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H2 và bà Tô Thị B; chồng: Trần Văn N (đã ly hôn); con: 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 12/5/2023. Hiện tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Lý Thị T, tên gọi khác: không, sinh ngày 23 tháng 4 năm 2000, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Tài H3 và bà Triệu Thị T1; chồng, con: không. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 12/5/2023. Hiện tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Sơn T2, tên gọi khác: không, sinh ngày 06 tháng 6 năm 2001, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh H4 và bà Ngô Thị N1; vợ, con: không. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 12/5/2023. Hiện tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: ông Nguyễn Văn C. Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 09/5/2023, Lý Thị T thuê phòng số 3001, tại khách sạn N2 thuộc Khu C, phường K, thành phố M để nghỉ cùng Nguyễn Văn H. Đến khoảng 02 giờ ngày 10/5/2023, T gọi điện thoại rủ Vũ Thị Q đến phòng nghỉ cùng T và H uống bia. Tại đây, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Q đã rủ T, H cùng mua ma túy về sử dụng thì T, H đồng ý. Sau khi thống nhất, H gọi điện thoại cho Phạm Văn Q1 (sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh) đặt vấn đề mua 01 túi ma túy “nước vui” với giá 3.000.000 đồng và 02 túi ma túy Ketamine với giá 1.600.000 đồng/túi. Khoảng 20 phút sau, Q1 đến phòng nghỉ số 3001 để giao ma túy. Do không có tiền nên H đã bảo Q trả trước số tiền 3.000.000 đồng cho Q1, số tiền còn lại Huấn trả sau. Tiếp theo, H lấy ma túy “nước vui” pha với nước ngọt, rót vào 03 bát nhựa rồi cùng Q, T sử dụng. Sau khi sử dụng xong ma túy “nước vui", Q đưa cho H 01 tờ tiền để H đồ một phần ma túy Ketamine ra nghiền nhỏ, còn H ra mượn lễ tân khách sạn 01 chiếc bật lửa để sử dụng ma túy. Tiếp đó, Q lấy ra tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng cuộn thành ống hút, rồi T và H dùng bật lửa hơ nóng tờ tiền chứa Ketamine để cả ba truyền tay nhau hít hết ma tuý trong tờ tiền. Túi ma túy Ketamine còn lại Q cất vào túi xách để sử dụng sau.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T, Q và H đi về phòng trọ của T và Q tại số nhà A, ngõ A, đường T, thuộc Khu C, phường H, thành phố M. Tại đây, Q lấy túi Ketamine từ trong túi xách ra để cả nhóm tiếp tục sử dụng. Q đưa túi ma túy cho T, T đổ túi ma túy ra đĩa sứ và dùng thẻ căn cước công dân của T đánh, nghiền nhỏ ma tuý. Q lấy tờ tiền 10.000 đồng cuộn thành ống hút rồi cả ba lần lượt sử dụng số ma túy trên. Lúc này do vẫn còn nhu cầu sử dụng ma túy, nên H tiếp tục gọi điện thoại cho Phạm Văn Q1 đặt vấn đề mua 02 túi Ketamine và 01 túi ma tuý “nước vui” với giá 6.200.000 đồng nhưng xin nợ tiền, thì Q1 đồng ý bán. Khoảng 20 phút sau, H đi ra đầu ngõ A đường T gặp và nhận ma tuý từ Q1. Mua được ma tuý, H đem về phòng trọ của T và Q, rồi đun, pha ma túy “nước vui” với nước ngọt, đổ ra cốc để cả ba cùng sử dụng. Sau khi sử dụng xong ma túy “nước vui”, T và Q cùng nhau đổ 02 túi Ketamine ra đĩa và nghiền mịn rồi cả ba tiếp tục sử dụng đến rạng sáng ngày 11/5/2023, thì cả nhóm đi ngủ.

Đến khoảng 14 giờ ngày 11/5/2023, sau khi ngủ dậy, Q gọi điện thoại rủ Nguyễn Sơn T2 đến phòng trọ để cùng sử dụng ma túy thì T2 đồng ý. Khoảng 20 phút sau, T2 cầm theo 01 túi Ketamine và tờ tiền 01 USD gói ma tuý Ketamine bên trong (do T2 mua trước đó của một người không quen biết tại tỉnh Hải Dương, mục đích để sử dụng) đến phòng trọ của T và Q để cả nhóm cùng sử dụng. Khi đến phòng trọ thì T2 thấy vẫn còn Ketamine ở trên đĩa nên đã sử dụng hết số Ketamine cũ rồi đổ Ketamine trong tờ tiền 01 USD ra đĩa và dùng thẻ căn cước công dân của T đánh, nghiền nhỏ. Tiếp đó, T2 lấy tờ tiền 10.000 đồng cuốn thành ống hút rồi tự sử dụng và mời mọi người sử dụng. H, Q, T thay nhau dùng tờ tiền 10.000 đồng cuốn thành ống hút để sử dụng ma túy. Túi ma tuý Ketamine còn lại, T2 để trên kệ để đồ tại phòng trọ. Sau khi sử dụng hết ma túy Ketamine trên đĩa, H rủ mua thêm ma túy để sử dụng thì cả nhóm đồng ý. H tiếp tục gọi điện cho Phạm Văn Q1 hỏi mua 02 túi Ketamine và 01 túi ma tuý “nước vui” với giá 6.200.000 đồng nhưng xin nợ tiền, Q1 đồng ý bán. Khoảng 20 phút sau, Q ra đầu ngõ A đường T gặp và nhận ma tuý từ Q1. Sau khi mua được ma túy, T2 pha túi ma túy “nước vui” với nước ngọt rồi chia cho mọi người cùng sử dụng. Một lúc sau, T lấy túi Ketamine ở trên kệ để đồ (do T2 đem đến) đổ ra nghiền, kẻ để mọi người cùng sử dụng. Tiếp đó, cả nhóm đổ toàn bộ ma túy Ketamine trong 02 túi vừa mua của Q1 ra đĩa sứ rồi nghiền, đánh nhỏ và cùng nhau sử dụng hết.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, do vẫn còn nhu cầu sử dụng ma túy nên H tiếp tục gọi điện cho Phạm Văn Q1 hỏi mua ma túy nhưng không liên lạc được. Thấy vậy, T2 rủ Q về chỗ ở của T2 tại số D phố T, thuộc Khu D, phường K, thành phố M để lấy ma túy sử dụng tiếp, thì Q đồng ý. Sau đó T2, Q và H đón xe taxi đi về chỗ ở của T2. Trên đường đi, H xuống khu vực ngã tư khách sạn H5 mua nước, còn T2, Q về chỗ ở của T2. Tại đây, T2 lấy 01 túi Ketamine (cũng do T2 mua trước đó của một người không quen biết tại tỉnh Hải Dương, cất giấu để sử dụng) chia thành 02 túi nhỏ cất vào túi quần, rồi cả 2 đi xe taxi quay lại đón H cùng về phòng trọ. Khi về đến phòng trọ, T2 lấy 01 túi ma túy đổ ra đĩa sứ, nghiền nhỏ rồi cùng H và Q sử dụng hết. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 12/5/2023, T2 tiếp tục đổ túi Ketamine còn lại ra đĩa để H đánh, nghiền nhỏ. Sau đó lần lượt H, T2, Q, T cùng nhau sử dụng hết. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, Tổ công tác của Công an thành phố M phối hợp với Công an phường H kiểm tra hành chính phòng trọ của T, Q. Tại cơ quan Công an, Lý Thị T, Vũ Thị Q, Nguyễn Văn H, Nguyễn Sơn T2 khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như trên.

Vật chứng thu giữ tại phòng trọ của T, Q:

  • 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng, được cuộn thành ống, bên trong có bán dính chất bột màu trắng (kí hiệu M1);
  • 01 túi nilon kích thước (2,5x2,5)cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa, bên trong bám dính chất bột màu trắng (ký hiệu M2);
  • 01 tờ tiền nước ngoài ghi chữ “ONE DOLLARS”, trên bề mặt tờ tiền có bám dính chất bột màu trắng (ký hiệu M3);
  • 01 túi nilon kích thước (2,5x2,5)cm, bên trong túi bám dính chất bột màu trắng (ký hiệu M4);
  • 01 túi nilon bên trong bám dính chất bột màu trắng (ký hiệu M5);
  • 01 túi nilon bên trong bám dính chất bột màu trắng (ký hiệu M6);
  • 01 chai thủy tinh trong suốt bên trong chai có đọng nước màu vàng và chứa 01 vỏ túi nilon bên trong vỏ túi bám dính chất bột màu vàng (ký hiệu M7);
  • 01 cốc nhựa bên trong lòng cốc bám dính cặn màu vàng cam (ký hiệu M8);
  • 01 đĩa sứ màu trắng bên trong lòng đĩa bám dính chất bột màu trắng (ký hiệu M9);
  • 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lý Thị T, trên bề mặt thẻ bám dính chất bột màu trắng (ký hiệu M10);
  • 01 ống hút màu cam dài 10,5 cm trong lòng ống bám dính chất bột màu trắng (ký hiệu M11);

Các vật dụng gồm: 01 bình điện đun nước; 01 chiếc bật lửa ga; 01 bộ loa màu đen; 01 đèn nháy màu đen.

Điện thoại của các bị cáo gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, số Imeil: 351732272662126, số Imei2: 351732272691208 gắn sim số 0969.057.883; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imeil: 351732278983617, số Imei2: 351732278762268 gắn sim số 0398.161.929; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, số Imeil: 358281861398158, số Imei2: 358281861155046 gắn sim số 0965.926.012; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số Imeil: 866451065246751 số Imei2: 866451065246744 gắn sim số 0977.235.730; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, số Imeil: 866101066067769, số Imei2: 866101066067777, gắn sim số 0355.775.318; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu ghi, số Imei: 356142097957112, gắn sim số 0862.194.799

Tại bản các bản Kết luận giám định số 602/KLGD, 603/KLGĐ ngày 20/5/2023, của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:

  • Các mẫu vật ký hiệu M1, M2, M4, M5, M6, M9, M10, M11 là ma túy, loại Ketamine, khối lượng: dạng vết không xác định được. Tìm thấy chất ma túy Ketamine tại mẫu vật M3. Tìm thấy chất ma túy Nimetazepam tại các mẫu vật ký hiệu M7, M8; khối lượng, thể tích: dạng vết không xác định được
  • Tìm thấy chất ma túy: Methamphetamine, MDMA và Dehyronorketamine (sản phẩm chuyển hóa của Ketamine) trong mẫu nước tiểu của Lý Thị T, Nguyễn Sơn T2, Nguyễn Văn H
  • Tìm thấy chất ma túy: Methamphetamine, MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu của Vũ Thị Q.

Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKSMC ngày 06 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Vũ Thị Q, Lý Thị T và Nguyễn Sơn T2 về tội: “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo có lời khai phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

Người chứng kiến ông Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: khoảng 04 giờ ngày 12/5/2023 ông được Công an mời chứng kiến về việc kiểm tra và thu giữ tang vật liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của H, Q, T và T2 trong phòng trọ của T và Q tại số nhà A, ngõ A, đường T, thuộc Khu C, phường H, thành phố M

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù; bị cáo Vũ Thị Q từ: 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; bị cáo Lý Thị T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; bị cáo Nguyễn Sơn T2 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vỏ bao gói ma túy hoàn lại sau giám định; 01 bật lửa gas màu tím; 01 chai thủy tinh trong suốt; 01 cốc nhựa trong suốt; 01 bình điện đun nước màu cam; 01 chiếc đĩa sứ màu trắng; 01 bộ loa màu đen; 01 đèn nháy màu đen; 01 ống hút màu cam. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 tờ tiền nước ngoài có ghi chữ “ONE DOLLARS" các bị cáo dùng để làm công cụ sử dụng ma túy.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, bên trong gắn 01 sim số 0398.161.929 của Vũ Thị Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu ghi, gắn 01 sim của Nguyễn Sơn T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, gắn 01 sim của Nguyễn Văn H là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Trả lại cho bị cáo T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, gắn 01 sim; Trả lại cho bị cáo cho bị cáo H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, bên trong gắn 01 sim và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu đen, gắn 02 sim không liên quan đến việc phạm tội.

Trả lại 01 thẻ căn cước công dân mang tên “LÝ THỊ THOẠI”, cho bị cáo Lý Thị T.

Các bị cáo không tranh luận gì với nội dung của bản luận tội, các bị cáo thừa nhận việc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và trình bày lời nói sau cùng: xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ quá trình tranh tụng, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp các lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra. Các lời khai của các bị cáo phù hợp nhau và phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính; vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà.

Hội đồng xét xử kết luận: Ngày 10/5/2023, tại khách sạn N2, thuộc khu C, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Thị Q và Nguyễn Văn H có hành vi tổ chức cho nhau và tổ chức cho Lý Thị T sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine, M1 và MDMA.

Tiếp đến trong 02 ngày 11 và 12/5/2023, tại phòng trọ thuộc quyền quản lý của bị cáo T và Q ở số nhà A, ngõ A, đường T, thuộc Khu C, phường H, thành phố M, Lý Thị T, Vũ Thị Q, Nguyễn Văn H và Nguyễn Sơn T2 có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine, M1 và MDMA, thì bị kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng.

[3] Hành vi tổ chức sử dụng trái phép ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, như vậy hành vi của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành của tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo thực hiện nhiều lần đối với nhiều người thuộc trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do vậy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe các bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[5] Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo thấy đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn H là người khởi xướng và trực tiếp mua 03 lần ma túy cho các bị cáo sử dụng nên có vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Q cũng là người khởi xướng tại khách sạn N3 đồng thời là người giúp sức tích cực cho bị cáo H trong việc nhận ma túy về cho các bị cáo khác sử dụng và tạo điều kiện về địa điểm, là người rủ bị cáo T2 đến phòng trọ của mình để sử dụng ma túy và cung cấp địa điểm cho các bị cáo khác sử dụng ma túy nên bị cáo Q có vai trò sau bị cáo H. Bị cáo T2 sau khi được Q rủ, cũng đã tích cực trong việc cung cấp ma túy cho các bị cáo khác sử dụng, nên giữ vai trò ngang với Q. Bị cáo T có vai trò sau cùng, nên chịu trách nhiệm sau H, Q, T2.

[6] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: xét các bị cáo, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về vật chứng: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền nước ngoài liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; các vật dụng gồm: 01 chai thủy tinh; 01 cốc nhựa; 01 đĩa sứ hình tròn; 01 đoạn ống hút màu cam; chiếc bật mửa; bình đun nước và toàn bộ các túi nilon có dính vết ma túy là vật các bị cáo làm công cụ để sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 the căn cước của bị cáo Lý Thị T là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo; đối với các điện thoại thu giữ của bị cáo Q, T2 và chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO của bị cáo H liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước; đối với 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu tím và Remi thu giữ của H và chiếc điện thoại thu giữ của T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H và T; đối với các vật dụng gồm: bộ loa, đèn nháy là vật dùng sinh hoạt không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.

[9] đối với Phạm Văn Q1 có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Văn H, hiện Q1 đã bị khởi tố, tạm giam trong vụ án khác về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M ra Quyết định tách vụ án và chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan để nhập vụ án điều tra xử lý đối với Q1 theo quy định nên không xét.

[10] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn H, Vũ Thị Q; Lý Thị T; Nguyễn Sơn T2 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H: 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày: 12/5/2023

Xử phạt bị cáo Vũ Thị Q: 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023

Xử phạt bị cáo Lý Thị T: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T2: 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023.

- Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền nước ngoài có mệnh giá 01 đôla có trong phong bì niêm phong, mặt trước có ghi thông tin “ Phòng K, Đội giám định số: 3602/KL-KTHS (số A) mẫu vật số hoàn lại sau kèm theo kết luận giám định số 602 ngày 20 tháng 5 năm 2023 vụ Lý Thị T và Vũ Thị Q".

Tịch thu tiêu hủy số vật dụng gồm 01 chai thủy tinh; 01 cốc nhựa; 01 đĩa sứ; 01 đoạn ống hút màu cam; toàn bộ vỏ bao gói mẫu có trong phong bì có ghi: “Công an tỉnh Q, Phòng K. Số: 602/KL-KTHS (số B)”. Mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 602/KL-KTHS ngày 20/5/2023 vụ Lý Thị T và Vũ thị Q2.

Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu tím; 01 bình điện đun nước sôi màu vàng;

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imeil: 351732278983617, số Imei2: 351732278762268 gắn sim số 0398.161.929; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số Imeil: 866451065246751 số Imei2: 866451065246744 gắn sim số 0977.235.730; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu ghi, số Imei: 356142097957112, gắn sim số 0862.194.799.

Tịch thu tiêu hủy các sim gắn trong các điện thoại trên.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, số Imeil: 358281861398158, số Imei2: 358281861155046 gắn sim số 0965.926.012; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, số Imeil: 866101066067769, số Imei2: 866101066067777, gắn sim số 0355.775.318.

Trả lại cho bị cáo Lý Thị T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, số Imeil: 351732272662126, số Imei2: 351732272691208 gắn sim số 0969.057.883; 01 bộ loa màu đen và bộ đèn nhày màu đen, 01 thẻ căn cước mang tên Lý Thị T ( thẻ căn cước có trong phong bì niêm phong (số B).

(Tình trạng các vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 03/2024/THA ngày 06/10/2023 giữa Công an thành phố M với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Móng Cái)

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng: khoản 1 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở TP tỉnh QN
  • - VKSND tỉnh QN, TPMC
  • - Cq Điều tra TPMC;
  • - Cq Thi hành án HSTPMC
  • - Trại tạm giam ( nơi bị cáo giam giữ)
  • - Thi hành án HS
  • - Cơ quan THADS
  • - Các Bị cáo;
  • - Lưu án văn; Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2023/HS-ST ngày 08/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 100/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Huấn, Vũ Thị Quỳnh, Lý Thị Thoại, Nguyễn Sơn Trường tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger