TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/DS-ST Ngày 30-9-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Anh
Ông Đinh Xuân Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thu Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa: Ông La Văn Xôm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST - DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Ngân hàng N2 (A); Địa chỉ trụ sở chính: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ngân hàng N2, chi nhánh huyện T, tỉnh Lai Châu. Địa chỉ trụ sở chi nhánh: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Người đại diện theo pháp luật: Ông: Nguyễn Minh D, chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Theo quyết định uỷ quyền số: 2664/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng Giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án.
Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Quang H, chức vụ: Phó trưởng phòng phụ trách phòng khách hàng, Ngân hàng N2, chi nhánh huyện T, tỉnh Lai Châu. Địa chỉ: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Theo văn bản ủy quyền ngày 26/6/2024 của ông Nguyễn Minh D cho ông Trần Quang H. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Đoàn Thị Mỹ D1, sinh năm: 1987 và ông Nguyễn Văn Y, sinh năm: 1979; Cùng địa chỉ: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt không có lý do chính đáng).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt không có lý do chính đáng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 7 năm 2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng N2, chi nhánh huyện T, tỉnh Lai Châu (viết tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng tín dụng với bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y (trong đó bà Đoàn Thị Mỹ D1 là người đại diện đứng ra ký các hồ sơ vay vốn, hồ sơ nhận nợ và các thủ tục khác tại Ngân hàng theo giấy ủy quyền từng lần vay vốn của ông Nguyễn Văn Y) vay vốn tại Ngân hàng theo bốn Hợp đồng tín dụng, cụ thể:
- - Hợp đồng tín dụng số: 7805-LAV-201902146: Ngày vay 18/11/2019, hạn trả nợ cuối cùng ngày 18/11/2024; Mục đích vay vốn: Trả tiền vay bù đắp mua vật liệu xây dựng nhà sàn; Số tiền vay: 1.500.000.000 đồng; Dư nợ gốc đến ngày 31/05/2024 số tiền: 360.000.000 đồng.
- +) Nhận nợ lần 01 theo số giải ngân 7805LDS201903192 ngày 22/11/2019, hạn trả cuối cùng ngày 18/11/2024. Mục đích lần nhận nợ: Trả tiền tiền vay bù đắp mua vật liệu xây dựng nhà sàn. Số tiền nhận nợ 500.000.000 đồng; Dư nợ gốc đến ngày 31/05/2024 số tiền 200.000.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: 03 tháng/lần. Lãi suất cho vay trong hạn: 11%/năm, đến ngày 15/07/2021 thay đổi lãi suất: 9,9%/năm; Đến ngày 01/01/2022 thay đổi lãi suất: 11%/năm; Đến ngày 19/05/2023 thay đổi lãi suất: 10,5%/năm; Đến ngày 01/10/2023 thay đổi lãi suất: 11%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% so với lãi suất vay đã thỏa thuận. Chia làm 5 phân kỳ trả nợ.
- +) Nhận nợ lần 02 theo số giải ngân 7805LDS201903310 ngày 04/12/2019, hạn trả cuối cùng ngày 18/11/2024. Mục đích lần nhận nợ: Trả tiền tiền vay bù đắp mua vật liệu xây dựng nhà sàn. Số tiền nhận nợ 200.000.000 đồng; Dư nợ gốc đến ngày 31/05/2024 số tiền 80.000.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: 03 tháng/lần. Lãi suất cho vay trong hạn: 11%/năm, đến ngày 15/07/2021 thay đổi lãi suất: 9,9%/năm; Đến ngày 01/01/2022 thay đổi lãi suất: 11%/năm; Đến ngày 17/05/2023 thay đổi lãi suất: 10,5%/năm; Đến ngày 01/10/2023 thay đổi lãi suất: 11%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% so với lãi suất vay đã thỏa thuận. Chia làm 5 phân kỳ trả nợ.
- +) Nhận nợ lần 03 theo số giải ngân 7805LDS202000507 ngày 27/02/2020, hạn trả cuối cùng ngày 18/11/2024. Mục đích lần nhận nợ: Trả tiền tiền vay bù đắp mua vật liệu xây dựng nhà sàn. Số tiền nhận nợ 200.000.000 đồng; Dư nợ gốc đến ngày 31/05/2024 số tiền 80.000.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: 03 tháng/lần. Lãi suất cho vay trong hạn: 11%/năm, đến ngày 15/07/2021 thay đổi lãi suất: 9,9%/năm; Đến ngày 01/01/2022 thay đổi lãi suất: 11%/năm; Đến ngày 17/05/2023 thay đổi lãi suất: 10,5%/năm; Đến ngày 01/10/2023 thay đổi lãi suất: 11%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % so với lãi suất vay đã thỏa thuận. Chia làm 5 phân kỳ trả nợ.
- - Hợp đồng tín dụng số: 7805-LAV-202101159 ngày vay 29/07/2021, hạn trả nợ cuối cùng ngày 29/07/2026; Mục đích vay vốn: Bù đắp tiền vay mua xe ô tô tải; Số tiền vay: 700.000.000 đồng; Dư nợ gốc đến ngày 31/05/2024 số tiền: 560.000.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: 03 tháng/lần. Lãi suất cho vay trong hạn: 9.9%/năm, đến ngày 01/01/2022 thay đổi lãi suất: 11%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% so với lãi suất vay đã thỏa thuận. Phân kỳ trả nợ gốc: 05 kỳ.
- - Hợp đồng tín dụng số: 7805-LAV-202101879 ngày vay 01/12/2021, hạn trả nợ cuối cùng ngày 01/12/2026; Mục đích vay vốn: Nộp tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ nhà đất; Số tiền vay: 600.000.000 đồng; Dư nợ gốc đến ngày 31/05/2024 số tiền: 480.000.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: 03 tháng/lần. Lãi suất cho vay trong hạn: 7%/năm, đến ngày 01/01/2022 thay đổi lãi suất: 11%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % so với lãi suất vay đã thỏa thuận. Phân kỳ trả nợ gốc: 05 kỳ.
- - Hợp đồng tín dụng số: 7805-LAV-202101884 ngày vay 02/12/2021, hạn trả nợ cuối cùng ngày 02/12/2026; Mục đích vay vốn: Trả tiền mua vật liệu xây nhà ở tại Bản M xã M, huyện T; Số tiền vay: 450.000.000 đồng; Dư nợ gốc đến ngày 31/05/2024 số tiền: 360.000.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: 03 tháng/lần. Lãi suất cho vay trong hạn: 9,9%/năm, đến ngày 01/01/2022 thay đổi lãi suất: 11%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % so với lãi suất vay đã thỏa thuận. Phân kỳ trả nợ gốc: 05 kỳ.
Tổng dư nợ tại các Hợp đồng tín dụng trên: Tổng số tiền vay tại các Hợp đồng tín dụng trên là 3.250.000.000 đồng. Dư nợ đến ngày 31/05/2024 là 1.760.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho các hợp đồng này bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp tài sản số 7805LCL201900666/HĐTC ngày 23/09/2019. Đến ngày 01/12/2021 được sửa đổi bổ sung bằng Hợp đồng thế chấp tài sản số 7805LC201900666 được UBND xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu chứng thực hợp đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Lai Châu. Tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất toạ lạc tại địa chỉ: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 238,6m² (trong đó đất ở tại nông thôn là 238,6m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 670843, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00452 do UBND huyện T, tỉnh Lai Châu cấp ngày 14/06/2019 cho ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1. Tài sản gắn liền với đất: Nhà sàn ba gian, diện tích 140 m² (diện tích sử dụng: 140m²), xây năm 2018. Tổng giá trị tài sản đảm bảo là 3.500.000.000 đồng (trong đó quyền sử dụng đất: 3.000.000.000 đồng, tài sản gắn liền với đất 500.000.000 đồng). Ông bà D1, Y đã cam kết dùng tài sản thế chấp nêu trên để đảm bảo cho các khoản vay của mình tại Ngân hàng.
Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, cụ thể:
- - Hợp đồng tín dụng số: 7805-LAV-201902146: Ngày vay 18/11/2019, hạn trả nợ cuối cùng ngày 18/11/2024. Số tiền vay: 1.500.000.000 đồng.
- - Hợp đồng tín dụng số: 7805-LAV-202101159: Ngày vay 01/12/2021, hạn trả nợ cuối cùng ngày 01/12/2026. Số tiền vay: 700.000.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: 03 tháng/lần. Lãi suất cho vay trong hạn: 9.9%/năm, đến ngày 01/01/2022 thay đổi lãi suất: 11%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % so với lãi suất vay đã thỏa thuận.
- - Hợp đồng tín dụng số: 7805-LAV-202101879: Ngày vay 01/12/2021, hạn trả nợ cuối cùng ngày 01/12/2026; Số tiền vay: 600.000.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: 03 tháng/lần. Lãi suất cho vay trong hạn: 7%/năm, đến ngày 01/01/2022 thay đổi lãi suất: 11%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % so với lãi suất vay đã thỏa thuận.
- - Hợp đồng tín dụng số: 7805-LAV-202101884: ngày vay 02/12/2021, hạn trả nợ cuối cùng ngày 02/12/2026; Số tiền vay: 450.000.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: 03 tháng/lần. Lãi suất cho vay trong hạn: 9,9%/năm, đến ngày 01/01/2022 thay đổi lãi suất: 11%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % so với lãi suất vay đã thỏa thuận.
Từ ngày 25/02/2020 đến ngày 23/05/2023, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y thực hiện trả lãi phân kỳ và gốc phân kỳ đúng thời hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các lần nhận nợ. Ông bà đã trả được 03 kỳ gốc phân kỳ vào ngày 26/11/2020, 25/11/2021, 23/11/2022 tổng số tiền 300.000.000 đồng.
Ngày 18/11/2023, đến hạn phải trả phân kỳ gốc kỳ thứ 04 số tiền 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 25/09/2023, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã đề nghị Ngân hàng thực hiện điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ gốc sang ngày 18/11/2024 (Trả số tiền gốc của kỳ thứ 04 cùng trả dồn vào kỳ thứ 05, tổng số tiền phải trả vào ngày 18/11/2024 là 200.000.000 đồng) và xin điều chỉnh kỳ hạn trả lãi từ 03 tháng/kỳ thành 12 tháng/kỳ. Nguyên nhân đề nghị điều chỉnh kỳ hạn là do tình hình tài chính của gia đình gặp khó khăn, nguồn trả nợ từ việc kinh doanh thóc gạo tại thị trấn T và các nguồn thu nhập khác không đủ để trả nợ vay. Từ đó đến nay, bà Đoàn Thị Mỹ D1, ông Nguyễn Văn Y không thực hiện thêm bất kỳ nghĩa vụ trả nợ nào cho Ngân hàng theo hợp đồng số 7805-LAV-201902146 ký ngày 18/11/2019.
Nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/06/2024 là 402.284.385 đồng. Trong đó nợ gốc là 360.000.000 đồng. Nợ lãi tạm tính đến ngày 30/06/2024 là 38.921.095 đồng.
Từ ngày 04/11/2021 đến ngày 15/05/2023, bà Đoàn Thị Mỹ D1, ông Nguyễn Văn Y thực hiện trả lãi phân kỳ đúng thời hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng.
Ngày 29/07/2022, đến hạn phải trả phân kỳ gốc kỳ thứ nhất số tiền 140.000.000 đồng. Nhưng bà Đoàn Thị Mỹ D1, ông Nguyễn Văn Y đã đề nghị Ngân hàng thực hiện điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ gốc sang 29/01/2023. Nguyên nhân đề nghị điều chỉnh kỳ hạn là do tình hình tài chính của gia đình gặp khó khăn, nguồn trả nợ từ việc kinh doanh thóc gạo tại thị trấn T và các nguồn thu nhập khác không đủ để trả nợ vay. Tuy nhiên, đến ngày 08/02/2023 ông bà mới trả được số tiền gốc phân kỳ đã được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ ở trên.
Đến ngày 29/7/2023, bà Đoàn Thị Mỹ D1, ông Nguyễn Văn Y đến hạn phải trả gốc phân kỳ kỳ thứ 02 số tiền 140.000.000 đồng nhưng xin đề nghị Ngân hàng thực hiện điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ gốc sang ngày 29/04/2024. Điều chỉnh kỳ hạn trả lãi từ 03 tháng/kỳ thành 09 tháng/kỳ. Nguyên nhân đề nghị điều chỉnh kỳ hạn là do tình hình tài chính của gia đình gặp khó khăn, nguồn trả nợ từ việc kinh doanh thóc gạo tại thị trấn T, từ tiền làm xây dựng các công trình dân dụng, xây dựng cơ bản tại địa bàn huyện của ông Y và các nguồn thu nhập khác chưa thu được do chưa được thanh toán.
Ngày 31/01/2024, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đến hạn phải trả lãi phân kỳ số tiền 44.853.698 đồng. Tuy nhiên cho đến nay, khoản vay đã chuyển quá hạn nhưng bà Đoàn Thị Mỹ D1, ông Nguyễn Văn Y vẫn không thực hiện trả số tiền lãi đến hạn trên.
Ngày 02/05/2024, bà Đoàn Thị Mỹ D1, ông Nguyễn Văn Y đến hạn phải trả số tiền gốc phân kỳ kỳ thứ 02 số tiền 140.000.000 đồng đã được điều chỉnh kỳ hạn trước đó (Điều chỉnh sang ngày 29/04/2024, tuy nhiên ngày 30/4 và 01/5 được nghỉ Lễ theo quy định, nên ngày đến hạn chuyển sang ngày 02/05/2024). Tuy nhiên cho đến nay, khoản vay đã chuyển quá hạn nhưng bà Đoàn Thị Mỹ D1, ông Nguyễn Văn Y vẫn không thực hiện trả số tiền gốc trên.
Tổng dư nợ quá hạn của Hợp đồng tín dụng số: 7805-LAV-202101159 đến ngày 30/06/2024 là: 635.569.314 đồng, trong đó: Dư nợ gốc là: 560.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 30/06/2024 là: 70.337.534 đồng.
Từ ngày 04/04/2022 đến ngày 07/04/2023 bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y thực hiện trả lãi phân kỳ đúng thời hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng. Bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã trả được gốc phân kỳ lần 01 vào ngày 09/12/2022 tổng số tiền 120.000.000 đồng (Chậm 08 ngày).
Ngày 30/06/2023, đến hạn phải trả lãi phân kỳ số tiền 12.867.945 đồng, tuy nhiên cho đến nay bà D1, ông Y vẫn không thực hiện trả số tiền lãi đến hạn trên.
Đến ngày 01/12/2023, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y phải trả gốc phân kỳ kỳ thứ 02 số tiền 120.000.000 đồng. Tuy nhiên ngày 26/09/2023, ông bà có đề nghị Ngân hàng điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ gốc sang ngày 01/12/2024 (Trả số tiền gốc của kỳ thứ 02 cùng trả dồn vào kỳ thứ 03, tổng số tiền phải trả vào ngày 01/12/2024 là 240.000.000 đồng). Và xin điều chỉnh kỳ hạn trả lãi từ 03 tháng/kỳ thành 12 tháng/kỳ. Nguyên nhân đề nghị điều chỉnh kỳ hạn là do tình hình tài chính của gia đình gặp khó khăn, nguồn trả nợ từ việc kinh doanh thóc gạo tại thị trấn T và các nguồn thu nhập khác không đủ để trả nợ vay. Từ đó đến nay, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y không thực hiện thêm bất kỳ nghĩa vụ trả nợ nào cho Ngân hàng theo hợp đồng số 7805-LAV-202101879 ký ngày 01/12/2021.
Nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/06/2024 là 549.692.055 đồng. Trong đó nợ gốc là 480.000.000 đồng. Nợ lãi tạm tính là 65.207.671 đồng.
Từ ngày 04/04/2022 đến ngày 07/04/2023 bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y thực hiện trả lãi phân kỳ đúng thời hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng. Bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã trả được gốc phân kỳ lần 01 vào ngày 09/12/2022 tổng số tiền 90.000.000 đồng (Chậm 07 ngày).
Ngày 30/06/2023, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đến hạn phải trả lãi phân kỳ số tiền 9.547.397 đồng, tuy nhiên cho đến nay ông bà vẫn không thực hiện trả số tiền lãi đến hạn trên.
Đến ngày 02/12/2023, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y phải trả gốc phân kỳ kỳ thứ 02 số tiền 90.000.000 đồng. Tuy nhiên ngày 26/09/2023, ông bà có đề nghị Ngân hàng điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ gốc sang ngày 02/12/2024 (Trả số tiền gốc của kỳ thứ 02 cùng trả dồn vào kỳ thứ 03, tổng số tiền phải trả vào ngày 01/12/2024 là 180.000.000 đồng). Và xin điều chỉnh kỳ hạn trả lãi từ 03 tháng/kỳ thành 12 tháng/kỳ. Nguyên nhân đề nghị điều chỉnh kỳ hạn là do tình hình tài chính của gia đình gặp khó khăn, nguồn trả nợ từ việc kinh doanh thóc gạo tại thị trấn T và các nguồn thu nhập khác không đủ để trả nợ vay. Từ đó đến nay, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y không thực hiện thêm bất kỳ nghĩa vụ trả nợ nào cho Ngân hàng theo hợp đồng số 7805-LAV-202101884 ký ngày 02/12/2021.
Nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/06/2024 là 412.269.041 đồng. Trong đó nợ gốc là 360.000.000 đồng. Nợ lãi tạm tính đến 30/06/2024 là 48.905.753 đồng.
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp và yêu cầu Bà Đoàn Thị Mỹ D1 (là người đại diện hộ vay theo giấy ủy quyền của từng lần vay vốn) thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký và yêu cầu bên bảo đảm là Bà Đoàn Thị Mỹ D1 và Ông Nguyễn Văn Y thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng thế chấp số 7805LCL201900666/HĐTC ngày 23/09/2019. Tuy nhiên, tính đến thời điểm khởi kiện bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y vẫn không thực hiện trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết. Bà D1, ông Y hiện đã đi khỏi địa bàn, không thể liên lạc được, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của Ngân hàng.
Như vậy, tính đến thời điểm khởi kiện 30/06/2024, Hợp đồng tín đụng số 7805-LAV-202101159 đã bị chuyển sang nợ quá hạn do bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 6 Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159, khoản vay tại hợp đồng được phân loại vào nợ nhóm 03 (Nợ dưới tiêu chuẩn). Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 9 của Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Ngân hàng N3 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Khoản 1, khoản 2 Điều 5 và Điều 6 của Quy chế 599/QC-HĐTV-RRTD ngày 30/9/2021 của Hội đồng thành viên Ngân hàng N4 thì các Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146; số 7805-LAV-202101159, số 7805-LAV-202101879; số 7805-LAV-201902146 bị xếp vào nhóm có mức độ rủi ro cao nhất đã vi phạm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 6 các hợp đồng tín dụng nêu trên. Do đó căn cứ các điểm c, d khoản 1 Điều 8 của các hợp đồng tín dụng bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã ký, Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Toà án nhân dân huyện Than Uyên giải quyết:
Buộc Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A Chi nhánh huyện T tại 04 Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146 ngày vay 18/11/2019, Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159 ngày vay 29/07/2021, Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV202101879 ngày vay 01/12/2021, Hợp đồng tín dụng số 7805LAV202101884 ngày vay 02/12/2021 tổng số tiền là 1.983.372.053 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, chín trăm tám mươi ba triệu, ba trăm bảy mươi hai ngàn, không trăm năm mươi ba ngàn đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.760.000.000 đồng; Nợ lãi tạm tính đến ngày khởi kiện: 223.372.053 đồng.
- Yêu cầu bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146 ngày vay 18/11/2019, Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159 ngày vay 29/07/2021, Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV202101879 ngày vay 01/12/201, Hợp đồng tín dụng số 7805LAV202101884 ngày vay 02/12/2021, kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.
- Nếu bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đảm bảo của bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y theo Hợp đồng bảo đảm số 7805LCL201900666/HĐTC ngày 23/09/2019 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên, qua xác minh, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y thường xuyên vắng mặt ở nơi cư trú nên không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp các văn bản tố tụng cho bị đơn. Tại thời điểm tống đạt các văn bản tố tụng bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y vẫn có hộ khẩu thường trú tại bản X, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu nhưng không có mặt tại nơi cư trú khi Toà án giải quyết vụ án, ông bà không thông báo chính quyền địa phương cũng như người nhà và Ngân hàng biết địa chỉ nơi cư trú hiện tại của mình. Bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã được thông báo về việc Toà án nhân dân huyện Than Uyên thụ lý và giải quyết vụ án, thông qua người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ đề nghị thoả thuận với Ngân hàng thời gian trả nợ trước ngày 30/9/2024. Tuy nhiên bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y không liên lạc với Ngân hàng để thực hiện nghĩa vụ. Căn cứ khoản 5 Điều 177, Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Than Uyên tiến hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, xác định vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ngày 25/10/2023 ông Nguyễn Văn Đ được ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1 uỷ quyền thay mặt ông Y, bà D1 quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có địa chỉ: Bản X, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu.Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 238,6m² (trong đó đất ở tại nông thôn là 238,6m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 670843, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00452 do UBND huyện T, tỉnh Lai Châu cấp ngày 14/06/2019 cho ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1, có chứng thực của UBND xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Ông Nguyễn Văn Đ công nhận được ông bà D1, Y uỷ quyền phối hợp với Ngân hàng để xử lý tài sản thế chấp và đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông có thời gian bán nhà, đất để trả nợ cho Ngân hàng trước ngày 30/9/2024 và đề nghị Ngân hàng giảm lãi suất cho bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y.
Tại phiên toà, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y. Yêu cầu Bà Đoàn Thị Mỹ D1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A do đã vi phạm các thỏa thuận quy định tại Điều 6 và Điều 8 của bốn hợp đồng tín dụng đã nêu trên. Ngân hàng đề nghị bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ với tổng số tiền cả gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử là 2.032.169.864 đồng. Cụ thể từng hợp đồng như sau:
- - Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146 ngày vay 18/11/2019
- + Số tiền gốc: 360.000.000 đồng
- + Số tiền lãi tạm tính đến 30/09/2024: 48.902.467 đồng
- - Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159 ngày vay 29/07/2021
- + Số tiền gốc: 560.000.000 đồng
- + Số tiền lãi tạm tính đến 30/09/2024: 85.864.109 đồng
- - Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV202101879 ngày vay 01/12/2021
- + Số tiền gốc: 480.000.000 đồng
- + Số tiền lãi tạm tính đến 30/09/2024: 78.516.165 đồng
- - Hợp đồng tín dụng số 7805LAV202101884 ngày vay 02/12/2021
- + Số tiền gốc: 360.000.000 đồng
- + Số tiền lãi tạm tính đến 30/09/2024: 58.887.123 đồng
Tổng số tiển gốc phải trả: 1.760.000.000 đồng
Tổng số tiền lãi phải trả tạm tính đến ngày 30/09/2024: 272.169.864 đồng
Yêu cầu trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn theo hợp đồng đã thoả thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ trên cho Ngân hàng. Trường hợp ông bà không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành thu hồi và phát mãi tài sản đảm bảo thế chấp để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y có nghĩa vụ thanh toán số nợ còn lại cho Ngân hàng cho đến khi hết nợ.
Bị đơn bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Về phía các đương sự: Nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành các giấy triệu tập, thông báo của của Tòa án, gây khó khăn trong việc tống đạt các văn bản tố tụng nhưng đã được đảm bảo các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 280, 298, 317, 322, 323, 401 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
- Căn cứ vào khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N2 (A).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền gốc và lãi phát sinh còn thiếu theo các Hợp đồng tín dụng đã ký, bị đơn khi vay không có mục đích lợi nhuận do đó xác định đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đều cư trú tại xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho các bị đơn theo địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên, qua xác minh, bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y thường xuyên vắng mặt ở nơi cư trú nên không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp các văn bản tố tụng cho bị đơn. Tại thời điểm tống đạt các văn bản tố tụng bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y vẫn có hộ khẩu thường trú tại bản X, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu nhưng không có mặt tại nơi cư trú khi Toà án giải quyết vụ án, ông bà không thông báo chính quyền địa phương cũng như người nhà và Ngân hàng biết địa chỉ nơi cư trú hiện tại của mình. Bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã được thông báo về việc Toà án nhân dân huyện Than Uyên thụ lý và giải quyết vụ án, thông qua người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ đề nghị thoả thuận với Ngân hàng thời gian trả nợ trước ngày 30/9/2024. Tuy nhiên bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y không liên lạc với Ngân hàng để thực hiện nghĩa vụ. Căn cứ khoản 5 Điều 177, Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Than Uyên tiến hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, xác định vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Ngày 13/9/2024, Toà án nhân dân huyện Than Uyên mở phiên toà lần thứ nhất bị đơn là bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Ngày 30/9/2024, Tòa án mở lại phiên tòa, các bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3.1]. Về yêu cầu buộc bị đơn trả gốc, lãi tạm tính đến thời điểm xét xử theo các Hợp đồng tín dụng đã ký.
Ngân hàng N2 ký hợp đồng tín dụng với bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y (trong đó bà Đoàn Thị Mỹ D1 là người đại diện đứng ra ký các hồ sơ vay vốn, hồ sơ nhận nợ và các thủ tục khác tại Ngân hàng theo giấy ủy quyền từng lần vay vốn của ông Nguyễn Văn Y) vay vốn tại Ngân hàng theo bốn Hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146 ngày vay 18/11/2019, Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159 ngày vay 29/07/2021, Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV202101879 ngày vay 01/12/2021, Hợp đồng tín dụng số 7805LAV202101884 ngày vay 02/12/2021 và các Khế ước nhận nợ kèm theo hợp đồng.
Thực hiện các hợp đồng, Ngân hàng đã giao đầy đủ cho bị đơn số tiền theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kèm theo các Khế ước nhận nợ thể hiện trong hồ sơ. Tổng số tiền vay tại các Hợp đồng tín dụng trên là 3.250.000.000 đồng. Bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã thanh toán các khoản nợ và dư nợ còn lại, lãi tạm tính theo các Hợp đồng tín dụng như sau:
- - Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146 ngày vay 18/11/2019: Số tiền vay: 1.500.000.000 đồng. Số tiền gốc đã trả: 1.140.000.000 đồng. Số lãi đã trả được kể từ ngày vay: 282.160.360 đồng. Số tiền gốc còn lại phải trả: 360.000.000 đồng. Số tiền lãi phải trả tạm tính đến 30/09/2024: 48.902.467 đồng
- - Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159 ngày vay 29/07/2021: Số tiền vay: 700.000.000 đồng. Số tiền gốc đã trả: 140.000.000 đồng. Số lãi đã trả được kể từ ngày vay: 129.338.904 đồng. Số tiền gốc còn lại phải trả: 560.000.000 đồng. Số tiền lãi phải trả tạm tính đến 30/09/2024: 85.864.109 đồng.
- - Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV202101879 ngày vay 01/12/2021: Số tiền vay: 600.000.000 đồng. Số tiền gốc đã trả: 120.000.000 đồng. Số lãi đã trả được kể từ ngày vay: 59.937.534 đồng. Số tiền gốc còn lại phải trả: 480.000.000 đồng. Số tiền lãi phải trả tạm tính đến 30/09/2024: 78.516.165 đồng.
- - Hợp đồng tín dụng số 7805LAV202101884 ngày vay 02/12/2021: Số tiền vay: 450.000.000 đồng. Số tiền gốc đã trả: 90.000.000 đồng. Số lãi đã trả được kể từ ngày vay: 62.397.121 đồng. Số tiền gốc: 360.000.000 đồng. Số tiền lãi tạm tính đến 30/09/2024: 58.887.123 đồng.
Như vậy, dư nợ đến ngày 30/9/2024 là 2.032.169.864 đồng, trong đó nợ gốc là: 1.760.000.000 đồng; L phải trả là: 272.169.864 đồng.
Xét thấy, trong từng Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ, các bên thỏa thuận vay dưới hình thức trả nợ nhiều lần. Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 6 Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159 ngày 29/07/2021, tính đến thời điểm khởi kiện 30/06/2024, Hợp đồng tín đụng số 7805-LAV-202101159 đã bị chuyển sang nợ quá hạn, khoản vay tại hợp đồng được phân loại vào nợ nhóm 03 (Nợ dưới tiêu chuẩn). Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 9 của Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Ngân hàng N3 quy định về “Phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” và Khoản 1, khoản 2 Điều 5 và Điều 6 của Quy chế 599/QC-HĐTV-RRTD ngày 30/9/2021 của Hội đồng thành viên Ngân hàng N4 thì các Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146; số 7805-LAV-202101159, số 7805-LAV-202101879; số 7805-LAV-201902146 bị xếp vào nhóm có mức độ rủi ro cao nhất đã vi phạm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 6 các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Do đó căn cứ các điểm c, d khoản 1 Điều 8 của các Hợp đồng tín dụng bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã ký, Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A Chi nhánh huyện T tại 04 Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146 ngày vay 18/11/2019, Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159 ngày vay 29/07/2021, Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV202101879 ngày vay 01/12/2021, Hợp đồng tín dụng số 7805LAV202101884 ngày vay 02/12/2021 tổng số tiền của bốn Hợp đồng là: 2.032.169.864 đồng (trong đó nợ gốc là: 1.760.000.000 đồng; Lãi tạm tính đến 30/9/2024 phải trả là: 272.169.864 đồng) là đúng theo thoả thuận của các Hợp đồng tín dụng. Việc bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của N hành. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y phải trả số tiền trên là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất: Lãi suất chi tiết được các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng. Xét thấy, việc tính lãi theo chi tiết thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng do Ngân hàng cung cấp là đúng với thỏa thuận mà hai bên đã ký và phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả nợ lãi tạm tính đến ngày xét xử là 30/9/2024 là 272.169.864 đồng, cụ thể: Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146 lãi phải trả tạm tính là 48.902.467 đồng; Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159 lãi phải trả tạm tính là 85.864.109 đồng; Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV202101879 lãi phải trả tạm tính là 78.516.165 đồng; Hợp đồng tín dụng số 7805LAV202101884 lãi phải trả tạm tính là 58.887.123 đồng kể từ ngày 30/9/2024. Bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y phải tiếp tục thanh toán toàn bộ lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay là có cơ sở để chấp nhận.
[3.2]. Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: Để đảm bảo cho các hợp đồng tín dụng bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp tài sản số 7805LCL201900666/HĐTC ngày 23/09/2019. Đến ngày 01/12/2021 được sửa đổi bổ sung bằng Hợp đồng thế chấp tài sản số 7805LC201900666 được UBND xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu chứng thực hợp đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Lai Châu. Tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất toạ lạc tại địa chỉ: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 238,6m² (trong đó đất ở tại nông thôn là 238,6m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 670843, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00452 do UBND huyện T, tỉnh Lai Châu cấp ngày 14/06/2019 cho ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1. Tài sản gắn liền với đất: Nhà sàn ba gian, diện tích 140 m² (diện tích sử dụng: 140m²), xây năm 2018. Tổng giá trị tài sản đảm bảo là 3.500.000.000 đồng (trong đó quyền sử dụng đất: 3.000.000.000 đồng, tài sản gắn liền với đất 500.000.000 đồng). Ông bà D1, Y đã cam kết dùng tài sản thế chấp nêu trên để đảm bảo cho các khoản vay của mình tại Ngân hàng.
Qua xem xét thẩm định tại chỗ, Hội đồng ghi nhận hiện trạng tài sản thế chấp như sau:
Quyền sử dụng đất: Thửa đất số 24 tờ bản đồ số 04, địa chỉ: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Tứ cận: Phía Nam giáp đường bê tông xóm M; phía Đông giáp đất của UBND xã quản lý; phía Bắc giáp đường bê tông ven suối; phía Tây giáp đất bà Vũ Thị N1. Tổng diện tích thửa đất 238,6 m².
Tài sản gắn liền với đất: 01 Nhà sàn hiện trạng kết cấu cột, xà, dầm, sàn, vách bằng gỗ; mái lợp ngói, cầu phong bằng gỗ, li tô thép mạ kẽm. Kích thước cụ thể: Phần bên trong cột: Diện tích 67,37m², trong đó: Mặt tiền 9,1 m² (tim cột); mặt bên giáp suối 7,55 m² (tim cột); mặt sau 8,7m² (tim cột); mặt bên giáp đường dân sinh 7,59 m². Phần hành lang đua ra trên sàn nhà: Diện tích 19,026 m², trong đó: Rộng 0,9 m², dài hai bên hông nhà và phía mặt tiền 21,14 m². Dọt ranh (diện tích phần mái nhà): Diện tích 104,95 m², trong đó: Mặt tiền 11,9 m²; mặt bên giáp suối 8,95 m²; mặt sau 11,5 m²; mặt bên giáp đường dân sinh 8,99 m². Phần sảnh: Diện tích 11,16 m², trong đó: dài 3,6 m², sâu 3,1 m². Mái sảnh: Diện tích 30,36 m², trong đó: dài 6,6 m², sâu 4,6 m². Công trình phụ: Nhà WC 2 tầng, kích thước dài 2,2 m², rộng 1,8 m². Hệ thống rào quanh nhà bằng sắt hộp.
Kết quả thẩm định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phù hợp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 670843, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00452 do UBND huyện T, tỉnh Lai Châu cấp ngày 14/06/2019 cho ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1; Phù hợp với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 7805LCL201900666/HĐTC ngày 23/09/2019 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản số 7805LC201900666, ngày 01/12/2021; các biên bản xác định giá trị tài sản đảm bảo và Cam kết dùng tài sản thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ của bên vay.
Theo thỏa thuận tại điểm g khoản 1 Điều 4, điểm a khoản 1 Điều 7 Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản số 7805LC201900666, ngày 01/12/2021 thì khi đến hạn thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào theo hợp đồng cấp tín dụng mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được quy định tại Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Xét việc ký kết các Hợp đồng tín dụng kèm theo Khế ước nhận nợ, Hợp đồng thế chấp và Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp đã đăng ký giao dịch bảo đảm đều được người có thẩm quyền của các bên ký trên cơ sở tự nguyện, có mục đích và nội dung không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nên hợp đồng thế chấp trên là hợp pháp. Do đó, các thỏa thuận trong hợp đồng phát sinh hiệu lực và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trường hợp bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có địa chỉ: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 238,6m² (trong đó đất ở tại nông thôn là 238,6m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 670843, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00452 do UBND huyện T, tỉnh Lai Châu cấp ngày 14/06/2019 cho ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1. Tài sản gắn liền với đất: Nhà sàn ba gian, diện tích 140 m² (diện tích sử dụng: 140m²) theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 7805LCL201900666/HĐTC ngày 23/09/2019, được sửa đổi bổ sung bằng Hợp đồng thế chấp tài sản số 7805LC201900666 ngày 01/12/2021 được UBND xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu chứng thực hợp đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Lai Châu để thu hồi nợ.
Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y có nghĩa vụ thanh toán số nợ còn lại cho Ngân hàng cho đến khi hết nợ.
Ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 670843, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00452 do UBND huyện T, tỉnh Lai Châu cấp ngày 14/06/2019 cho ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1 ngay khi ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1 đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm hợp đồng.
Bị đơn bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y vắng trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.
Đối với Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ: Ngày 25/10/2023, ông Nguyễn Văn Đ được ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1 uỷ quyền thay mặt ông Y, bà D1 quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có địa chỉ: Bản X, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu.Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 238,6m² (trong đó đất ở tại nông thôn là 238,6m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 670843, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00452 do UBND huyện T, tỉnh Lai Châu cấp ngày 14/06/2019 cho ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1, có chứng thực của UBND xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Tuy nhiên, trước khi ký Uỷ quyền ngày 25/10/2023, Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1 đã đem tài sản trên thế chấp tại Ngân hàng theo các Hợp đồng thế chấp đã nêu. Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn Đ công nhận được ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1 uỷ quyền phối hợp với Ngân hàng để xử lý tài sản thế chấp và đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông có thời gian bán nhà, đất để trả nợ cho Ngân hàng trước ngày 30/9/2024 và đề nghị Ngân hàng giảm lãi suất cho bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y, nhưng đến thời điểm xét xử ông Nguyễn Văn Đ chưa xử lý được tài sản đảm bảo. Căn cứ Uỷ quyền của ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1, ông Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng để xử lý tài sản đảm bảo khi có yêu cầu của Ngân hàng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 280, 298, 317, 322, 323, 401 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ vào khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N2 (A).
- - Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146 ngày vay 18/11/2019
- + Số tiền gốc: 360.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi triệu đồng).
- + Số tiền lãi tạm tính đến 30/09/2024: 48.902.467 đồng (Bốn mươi tám triệu, chín trăm linh hai nghìn, bốn trăm sáu mươi bảy đồng).
- - Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159 ngày vay 29/07/2021
- + Số tiền gốc: 560.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng).
- + Số tiền lãi tạm tính đến 30/09/2024: 85.864.109 đồng (Tám mươi lăm triệu, tám trăm sáu mươi tư nghìn, một trăm linh chín đồng).
- - Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV202101879 ngày vay 01/12/2021
- + Số tiền gốc: 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng).
- + Số tiền lãi tạm tính đến 30/09/2024: 78.516.165 đồng (Bảy mươi tám triệu, năm trăm mười sáu nghìn, một trăm sáu mươi lăm đồng).
- - Hợp đồng tín dụng số 7805LAV202101884 ngày vay 02/12/2021
- + Số tiền gốc: 360.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi triệu đồng).
- + Số tiền lãi tạm tính đến 30/09/2024: 58.887.123 đồng. (Năm mươi tám triệu, tám trăm tám mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi ba đồng).
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N2 chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y phải chịu 72.643.397 đồng (Bảy mươi hai triệu, sáu trăm bốn mươi ba nghìn, ba trăm chín mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y chưa nộp án phí.
- Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
Buộc bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N2 tổng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày xét xử 30/09/2024 là: 2.032.169.864 đồng (Hai tỷ, không trăm ba mươi hai triệu, một trăm sáu mươi chín nghìn, tám trăm sáu tư đồng) trong đó nợ gốc là: 1.760.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm sáu mươi triệu đồng); L phải trả là: 272.169.864 đồng (Hai trăm bảy mươi hai triệu, một trăm sáu mươi chín nghìn, tám trăm sáu mươi tư đồng). Cụ thể:
Phương thức, thời gian trả nợ: Trả một lần ngay khi sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có địa chỉ: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 238,6m² (trong đó đất ở tại nông thôn là 238,6m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 670843, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00452 do UBND huyện T, tỉnh Lai Châu cấp ngày 14/06/2019 cho ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1. Tài sản gắn liền với đất: Nhà sàn ba gian, diện tích 140 m² (diện tích sử dụng: 140m²) theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 7805LCL201900666/HĐTC ngày 23/09/2019, được sửa đổi bổ sung bằng Hợp đồng thế chấp tài sản số 7805LC201900666 ngày 01/12/2021 được UBND xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu chứng thực hợp đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Lai Châu để thu hồi nợ.
Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng bà Đoàn Thị Mỹ D1 và ông Nguyễn Văn Y có nghĩa vụ thanh toán số nợ còn lại cho Ngân hàng cho đến khi hết nợ.
Kể từ ngày 30/9/2024 cho đến ngày thanh toán hết nợ cho Ngân hàng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo các Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-201902146 ngày vay 18/11/2019, Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV-202101159 ngày vay 29/07/2021, Hợp đồng tín dụng số 7805-LAV202101879 ngày vay 01/12/2021, Hợp đồng tín dụng số 7805LAV202101884 ngày vay 02/12/2021 và các Khế ước nhận nợ kèm theo hợp đồng.
Ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 670843, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00452 do UBND huyện T, tỉnh Lai Châu cấp ngày 14/06/2019 cho ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1 ngay khi ông Nguyễn Văn Y, bà Đoàn Thị Mỹ D1 đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm hợp đồng.
Ngân hàng N2 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 35.750.580 đồng (Ba mươi lăm triệu, bảy trăm năm mươi nghìn, năm trăm tám mươi đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000840 ngày 05/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quàng Thị Phương |
Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 10/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng NNPTNT huyện X - Nguyễn Văn Y - Đoàn Mỹ D tranh chấp hợp đồng tín dụng
