Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 10/2024/DS-ST

Ngày 30 tháng 5 năm 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hùng Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa; Bà Trần Bích Thủy;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội đã có công văn không tham gia phiên tòa, ( Không thuộc trường hợp theo Điều 21 BLTTDS).

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 68/2023/TLDS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2024/QÐST-DS ngày 17/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1966 (Có mặt)

ĐKHKTT: Thôn B, xã P, huyện P, TP .;

Bị đơn: Anh Khuất Đăng K, sinh năm 1986 (Vắng mặt)

ĐKHKTT: Thôn Đ, xã C, thị xã S, TP .;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện, các bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa ông Hoàng Văn L trình bày:

Ông và anh Khuất Đăng K có quan hệ quen biết. Năm 2012, anh K có vay của ông L số tiền 206.000.000 đồng theo Giấy vay tiền đề ngày 15/10/2012. Khi vay các bên thỏa thuận lãi xuất là 2%/tháng. Tuy nhiên từ sau khi viết giấy vay nợ, anh K không thanh toán cho ông L bất kỳ khoản tiền nào. Đến năm 2018, anh K có làm công cho ông L, trị giá tiền công ông L xác định là 80.000.000 đồng. Đến năm 2022, anh K có trả cho ông L số tiền 20.000.000 đồng nữa, ông L xác định số tiền trên được tính vào tiền lãi. Quá trình giải quyết tại Tòa án, anh K có viết giấy cam kết nhận nợ, nội dung còn nợ ông L số tiền 140.000.000 đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày 06/3/2024 đến ngày 06/3/2027 với lịch trình trả nợ cụ thể, nhưng không thực hiện đúng cam kết.

Nay ông Hoàng Văn L khởi kiện anh Khuất Đăng K tại Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh K trả lại cho bà số tiền gốc đã vay là 206.000.000 đồng, và lãi xuất theo quy định của pháp luật kể từ thời điểm vay đến khi kết thúc khoản nợ. Ông L xác định chỉ có anh K vay tiền, không liên quan đến người khác nên chỉ yêu cầu anh K có nghĩa vụ trả nợ.

Về bị đơn là anh Khuất Đăng K: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng, giấy báo, giấy triệu tập cho anh K. Tại Bản tự khai ngày 20/12/2023, anh K trình bày đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và đề nghị Tòa án cho anh thời gian thương lượng với ông Hoàng Văn L và sẽ trình bày lại việc thỏa thuận công nợ với ông L tại buổi làm việc tiếp theo tại Tòa án án. Ngày 06/3/2024, anh K có thỏa thuận với ông L về lịch trình thanh toán nợ tại Bản cam kết nội dung thừa nhận còn nợ ông L số tiền 140.000.000 đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày 06/3/2024 đến ngày 06/3/2027 với lịch trình trả nợ cụ thể, nhưng không thực hiện đúng cam kết. như sau:

  1. Trước ngày 10/4/2024 trả trước cho ông Hoàng Văn L số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng);
  2. Đến cuối năm 2024 trả tiếp ông L số tiền 26.500.000 đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng);
  3. Trong năm 2025 trả tiếp 46.600.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng);
  4. Năm 2026 trả nốt số tiền còn lại.

Sau khi thanh toán số tiền trên, đề nghị ông L trả lại các giấy tờ vay và xác nhận không còn công nợ. Tuy nhiên sau khi viết cam kết, anh K không thực hiện theo đúng cam kết là trả trước ngày 10/4/2024 số tiền 20.000.000 đồng cho ông L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng do anh K không đến Tòa án làm việc, không thực hiện đúng thỏa thuận theo cam kết các đương sự không thỏa thuận được toàn bộ việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tòa án đã chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, TP . nghiên cứu đúng quy định. Viện Kiểm sát nhân dân thị xã đã có Công văn số: 140/CV-VKS về việc không tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ông Hoàng Văn L có khởi kiện đối với anh Khuất Đăng K về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Xét thấy anh K có hộ khẩu thường trú tại số thôn Đ, xã C, thị xã S, TP . nên việc Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015).

Ngày 17/5/2024 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Do bị đơn là anh Khuất Đăng K vắng mặt không có lý do nên Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây đã căn cứ Điều 227 BLTTDS quyết định hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 30/5/2024 và tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Ngày 30/5/2024 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây mở phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về yêu cầu khởi kiện tranh chấp Hợp đồng vay tài sản của nguyên đơn ông Hoàng Văn L:

[2.1] Về yêu cầu trả nợ gốc:

Ông Hoàng Văn L và anh Khuất Đăng K, có quan hệ quen biết. Ngày 15/10/2012, anh K có vay ông L số tiền gốc là 206.000.000 đồng, với thời hạn vay 01 năm, không thỏa thuận lãi xuất theo Giấy vay tiền ngày 15/10/2012. Sau khi vay tiền, anh K chưa thanh toán cho ông L khoản tiền gốc nào. Năm 2018 anh K có làm công cho ông L, với số tiền công là 80.000.000 đồng ông L xác định đối trừ vào tiền lãi anh K phải thanh toán. Năm 2022, anh K thanh toán được cho ông L số tiền 20.000.000 đồng, ông L cũng xác định trừ vào khoản tiền lãi anh K phải thanh toán. Nay ông L khởi kiện anh K tại Tòa án, yêu cầu buộc anh K phải trả lại cho ông L số tiền gốc là 206.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi xuất theo quy định của pháp luật kể từ thời điểm vay đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ Hội đồng xét xử xác định: Ngày 15/10/2012, ông Hoàng Văn L và anh Khuất Đăng K đã tiến hành giao kết Hợp đồng vay tài sản là tiền Việt Nam đồng không thỏa thuận về lãi suất. Khi giao kết Hợp đồng vay tài sản các bên có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, hình thức hợp đồng phù hợp với quy định, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại các Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466, Điều 467, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông L và anh K đã giao nhận số tiền vay, anh K đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho ông L như đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn L buộc anh Khuất Đăng K phải trả số tiền nợ còn lại là 206.000.000 đồng.

[2.2] Về lãi xuất:

Ông Hoàng Văn L đề nghị áp dụng lãi xuất theo quy định của pháp luật kể từ thời điểm vay (ngày 15/10/2012) đến khi anh K trả xong nợ. Anh K không trình bày quan điểm về yêu cầu lãi xuất của ông L.

Hội đồng xét xử xét thấy: Do hợp đồng vay tài sản cuả ông L và anh K là hợp đồng vay tài sản có ký hạn, không có thỏa thuận về lãi, xác lập trước ngày 01/01/2017 nên HĐXX áp dụng Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005, buộc anh Khuất Đăng K có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tại thời điểm trả nợ là 9%/năm tương ứng với thời gian chậm trả từ ngày 15/10/2013 đến thời điểm xét xử (30/5/2024), với số tiền cụ thể là:

206.000.000 đồng x 9%/năm x 3881 ngày = 197.133.534 đồng.

Do ông Hoàng Văn L xác định anh Khuất Đăng K đã trả được số tiền là 100.000.000 đồng nhưng không xác định cụ thể thời gian trả, đối trừ vào tiền lãi nên HĐXX xác định số tiền lãi anh K còn phải trả là 97.133.534 đồng.

Kể từ ngày 31/5/2024, anh K còn phải tiếp tục chịu lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả.

[3] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Hoàng Văn L được chấp nhận nên ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh Khuất Đăng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 15.156.677 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 26 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 478 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Áp dụng các Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466, Điều 467, Điều 468, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều Điều 91, Điều 94, Điều 96, Điều 97, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn L.

    Buộc anh Khuất Đăng K phải trả cho ông Hoàng Văn L số tiền là: 303.133.354 đồng (Ba trăm linh ba triệu, một trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm năm mươi tư đồng), trong đó bao gồm: 206.000.000 đồng (Hai trăm linh sáu triệu đồng) tiền nợ gốc và 97.133.534 đồng (Chín mươi bảy triệu .một trăm ba mươi ba nghìn năm trăm ba mươi tư đồng) tiền lãi.

    Kể từ ngày 31/5/2024, anh K còn phải tiếp tục chịu lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả.

  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án (có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
  3. Về án phí: Hoàn trả ông Hoàng Văn L số tiền tạm ứng án phí là 9.500.000 (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000781 ngày 20/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây;

    Anh Khuất Đăng K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 15.156.677 đồng (Mười lăm triệu một trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi bảy đồng).

  4. Về quyền kháng cáo Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Viện KSND TX. Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX. Sơn Tây;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lã Hùng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 10/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger