|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2023/HNGĐ-PT Ngày: 29 – 11 - 2023 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tử Lượng
Các Thẩm phán: ông Đinh Huy Lưỡng và bà Nguyễn Thị Phượng
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Liên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình: ông Phạm Hữu Hải - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2023/TLPT-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2023/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Anh C sinh năm 1958; địa chỉ: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- Bị đơn: bà Phạm Thị T sinh năm 1958; địa chỉ: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- Người kháng cáo: bà Phạm Thị T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/5/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là ông Nguyễn Anh C trình bày:
Ông C và bà Phạm Thị T kết hôn năm 1978 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Do ông bà đã làm mất giấy chứng nhận kết hôn nên không cung cấp cho Tòa án được. Sau khi kết hôn, ông C và bà T chung sống hạnh phúc. Khoảng 10 năm gần đây ông và bà T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính cách của ông bà không hợp nhau; bà T ghen tuông vô cớ, thiếu văn hóa làm mất danh dự của ông C; ngoài ra bà T còn hay chơi lô đề. Đặc biệt từ năm 2020 đến nay, mâu thuẫn vợ chồng ông bà trở nên trầm trọng và đã sống ly thân. Ông C sống tại thành phố N còn bà T sống tại xã Y, huyện Y. Ông C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà T.
Về con chung: ông C và bà T sinh được 04 người con chung là Nguyễn Thị H sinh năm 1978, Nguyễn Hồng H1 sinh năm 1982, Nguyễn Chung H2 sinh năm 1984 và Nguyễn Thị H3 sinh năm 1987 (chết năm 2000). Hiện nay các con của ông bà đều đã trưởng thành, tự lập được cuộc sống và đã có gia đình riêng nên ông C không đề nghị Tòa án giải quyết về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là bà Phạm Thị T trình bày:
Bà T kết hôn với ông Nguyễn Anh C năm 1978, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y nhưng giấy chứng nhận kết hôn đã bị mất. Sau khi kết hôn 5 ngày thì ông C đi làm kinh tế mới; 02 năm 6 tháng sau ông C dẫn về nhà một người con gái quê ở xã K nhưng bà T vẫn coi như không có chuyện gì xảy ra, vợ chồng vẫn sống bình thường, cùng nhau tạo lập kinh tế, nuôi dạy con cái. Đến năm 1988 ông C lại dẫn về một người con ngoài giá thú, bà T vẫn chấp nhận. Từ năm 2013 ông C đi làm ở thành phố N vẫn thường xuyên đi về nhà. Từ tháng 5 năm 2022 thì ông C mới không đi về và đã thông báo với hai người chị gái là ông C muốn kết hôn với người khác. Bà T đã nói chuyện, khuyên bảo nhưng ông C không nghe và đã làm đơn xin ly hôn. Bà T nghĩ việc ông C muốn kết hôn với người khác chỉ là suy nghĩ nhất thời, bởi ông C đã nhiều tuổi. Bà T vẫn còn tình cảm với ông C, không muốn vợ chồng già mà phải ly tán và các con của ông bà người nào cũng đã ly hôn nên không đồng ý ly hôn với ông C.
Về con chung: bà T và ông C có 04 người con chung như ông C đã trình bày. Hiện tại 03 người con của ông bà đã trưởng thành, tự lập được cuộc sống và có gia đình riêng nên bà không đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ: bà T không đồng ý ly hôn nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản xác minh ngày 07/6/2023, Ủy ban nhân dân xã Y cung cấp: ông C và bà T tự nguyện chung sống với nhau từ khoảng năm 1978 – 1979 cho đến nay, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Ủy ban nhân dân xã Y không lưu trữ sổ đăng ký kết hôn từ năm 1980 trở về trước nên không có căn cứ xác định ông C, bà T có đăng ký kết hôn hay không. Ông C và bà T có 04 người con chung là chị Nguyễn Thị H sinh năm 1978, anh Nguyễn Hồng H1 sinh năm 1982, anh Nguyễn Chung H2 sinh năm 1984 và chị Nguyễn Thị H3 sinh năm 1987 (chết năm 2000). Địa phương được biết, khoảng 02 năm gần đây ông C và bà T phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn nghe nói là do ông C có tình cảm với người phụ nữ khác, bà T hiểu lầm ghen tuông dẫn đến ông C không sống cùng bà T khoảng 02 năm nay. Ông C sống ở thành phố N còn bà T sống tại xã Y.
Tại Bản án sơ thẩm số 14/2023/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 5, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử cho ông Nguyễn Anh C ly hôn bà Phạm Thị T.
- Án phí: miễn án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) cho ông Nguyễn Anh C.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023, bà Phạm Thị T kháng cáo Bản án sơ thẩm số 14/2023/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô. Lý do: ông C trình bày 10 năm nay vợ chồng chung sống không hạnh phúc, hay xảy ra mâu thuẫn là không đúng sự thật. Ông C nói 02 năm gần đây đã sống ly thân với bà T là không chính xác vì cách đây vài tháng gia đình có đám giỗ (27/02/2023), ông C đã ngủ lại nhà và vợ chồng vẫn sinh hoạt bình thường. Ông C muốn ly hôn là để kết hôn với người phụ nữ khác. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu xin ly hôn của ông C để vợ chồng về đoàn tụ lúc tuổi già.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phạm Thị Thu g nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: do vợ chồng có mâu thuẫn nên có lần ông C đã đánh bà T. Anh chị em trong gia đình ông C đã họp 2 – 3 lần để khuyên ông C quay về chung sống với bà T nhưng ông C không nghe mà vẫn tiếp tục đi với người phụ nữ khác. Bà T cũng đã khuyên nhiều lần nhưng ông C vẫn không quay về. Hiện nay, ông C không còn tình cảm với bà T nhưng bà T thì vẫn còn tình cảm với ông C nên không nhất trí ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm; đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 14/2023/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô. Miễn nộp án phí phúc thẩm cho bà Phạm Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Bà Phạm Thị T đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của người kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án được xét xử lại theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là ông Nguyễn Anh C vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông C.
[2] Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo:
Ông C và bà T đều thừa nhận ông bà xác lập quan hệ vợ chồng từ năm 1978 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y nhưng không cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn do bị mất. Ủy ban nhân dân xã Y cũng có xác nhận ông C và bà T chung sống với nhau từ năm 1978 nhưng Ủy ban không còn lưu trữ sổ đăng ký kết hôn từ năm 1980 trở về trước nên không có căn cứ xác định ông C và bà T có đăng ký kết hôn hay không. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000”; điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “người đang có vợ hoặc có chồng” là “người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết”. Do đó quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Anh C và bà Phạm Thị T là hôn nhân thực tế, được pháp luật thừa nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C xác định khoảng 10 năm gần đây ông và bà T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đặc biệt từ năm 2020 đến nay ông bà sống ly thân, ông C sống tại thành phố N còn bà T sống tại xã Y, huyện Y. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính cách của ông bà không hợp nhau; bà T ghen tuông vô cớ, thiếu văn hóa làm mất danh dự của ông C và bà T hay chơi lô đề.
Bà T cũng đã khai trong quá trình vợ chồng chung sống, ông C có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác và đã có con ngoài giá thú. Từ tháng 5 năm 2022 đến nay ông C không về nhà chung sống với bà T. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bà T đã thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nên có lần ông C đánh bà T. Anh chị em trong gia đình ông C đã họp 2 – 3 lần để khuyên ông C quay về chung sống với bà T nhưng ông C không nghe mà vẫn tiếp tục đi với người phụ nữ khác. Bà T cũng đã khuyên ông C nhiều lần nhưng ông C vẫn không quay về. Hiện nay, ông C không còn tình cảm với bà T nhưng bà T thì vẫn còn tình cảm với ông C nên không nhất trí ly hôn. Mâu thuẫn giữa ông C, bà T được con gái của ông bà là chị Nguyễn Thị H chứng kiến và đã xác nhận tại phiên tòa sơ thẩm.
Từ những lời khai, sự thừa nhận nêu trên của các đương sự và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Y, đủ căn cứ xác định vợ chồng ông C bà T xảy ra mâu thuẫn và đang sống ly thân và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau là đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Tòa án sơ thẩm đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng không thành. Xét thấy ông C bà T do mâu thuẫn nên không còn chung sống với nhau đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên bản án sơ thẩm đã giải quyết cho ông bà ly hôn là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết phúc thẩm bà T không đưa ra được chứng cứ chứng minh kháng cáo của mình là có căn cứ và không có phương án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ và chung sống hạnh phúc. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 14/2023/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô.
[3] Về án phí phúc thẩm: bà T là người cao tuổi và đã có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận miễn nộp án phí phúc thẩm cho bà T theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 14/2023/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Án phí phúc thẩm: miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm cho bà Phạm Thị T.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/11/2023).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tử Lượng |
Bản án số 10/2023/HNGĐ-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 10/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
