|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2024/DS-ST Ngày: 29/5/2024 “ Về việc tranh chấp đất đai ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà; Ông Nguyễn Trọng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Sửu, bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh Thư. Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà; Nguyễn Thị Phương Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 29/5/2024. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2023/TLST- DS, ngày 20/11/2023, về việc: Tranh chấp đất đai. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXX-ST, ngày 26/4/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Xuân L, sinh năm 1962 và bà Cao Thị Nhật M, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt
2. Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn là vợ chồng ông Phạm Xuân L trình bày như sau: Vợ chồng ông bà có một thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11, tại thôn T, xã V, huyện T, có diện tích 521,1 m², đã được được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận ngày 30/9/2016 mang tên cả hai vợ chồng.
Thửa đất này hiện nay gia đình đang để trống chưa xây dựng nhà cửa hay công trình gì cả, thửa đất nằm giữa đỉnh đồi, nên chỉ có các cây cối hoang mọc; giáp về phía Tây của thửa đất, giáp với lối đi ra của thửa đất có vợ chồng ông Võ Văn H và bà Hoàng Thị T ở cạnh.
Do thửa đất để hoang, nên trong quá trình vợ chồng ông Võ Văn H ở, đến năm 2021 ông H đã tự ý chôn ống vệ sinh ngay dọc cổng ra vô của thửa đất vợ chồng, sau đó ông bà đã yêu cầu ông H tháo dỡ; năm 2022 ông H lại đã tự ý lát gạch men lên phần cổng ra vô thuộc thửa đất của ông bà, ông bà cũng đã yêu cầu ông H tháo dỡ, nhưng ông H không tháo dỡ, nên ông L đã lấy xà beng cạy tháo dỡ.
Năm 2023 ông H đã tự ý xây bờ rào gạch táp lô lấn trên phần đất cổng ra vô thuộc đất của ông bà, vợ chồng ông bà đã làm đơn gửi lên xã đề nghị giải quyết, UBND xã đã nhiều lần tổ chức hoà giải nhưng không thành. Nay ông bà khởi kiện đề nghị ông H tháo dỡ đoạn bờ rào đã xây trên phần đất của ông bà và trả lại toàn bộ diện tích đã lấn chiếm đất của ông bà; phần đất bị lấn chiếm không lớn, diện tích khi ông làm đơn khởi kiện khoảng gần 5 m², nhưng nay ông yêu cầu trả lại diện tích theo kết quả thẩm định (vì khi khởi kiện ông chỉ ước lượng, không đo được cụ thể, nên không chính xác được) trị giá diện tích đất bị lấn chiếm không nhiều, nhưng phần đất bị lấn, thuộc cổng ra vào của thửa đất bị hẹp đi, phần đất cổng ra vào của ông bà chỉ rộng 1,9 m, nhưng nay chỉ còn lại khoảng 1,3 m; nên đi lại gặp nhiều khó khăn, nên vợ chồng ông bà yêu cầu ông H tháo dỡ bờ rào, để trả lại phần đất đã lấn chiếm cho của ông bà thuộc thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An. Phần đất mà vợ chồng ông bà khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông H phải trả là phần diện tích đã lấn chiếm nằm phía sát với đất ông H, mà ông bà dùng làm lối đi ra vào thửa đất, một bên là đất bà L, một bên là giáp sân của vợ chồng ông H, sau khi lấn chiếm ông H đã xây bờ rào và trụ cổng, làm cho lối đi của ông bà bị hẹp lại; còn các phần đất phía sau ông bà không yêu cầu.
Ngoài các ý kiến đã trình bày và yêu cầu như trên, ông bà không có ý kiến hay yêu cầu thêm bất cứ vấn đề gì.
Bị đơn là ông Võ Văn H và bà Hoàng Thị T trình bày như sau: Vợ chồng ông bà có thửa đất số 16, tờ bản đồ 43, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14 tháng 12 năm 2017 mang tên ông Võ Văn H và bà Hoàng Thị T. Nguồn gốc thửa đất này vợ chồng ông bà sử dụng từ năm 1989; đến khoảng năm 1991 thì gia đình ông Phạm Xuân L có sử dụng một thửa đất liền kề với thửa đất của ông bà, nhưng thửa đất gia đình ông L sử dụng không có lối đi ra đường xóm, nên vợ chồng ông bà đã cho vợ chồng ông L sử dụng một lối đi, không rõ diện tích bao nhiêu.
Hai gia đình sử dụng ổn định từ thời điểm năm 1991 cho đến 2021 thì phát sinh tranh chấp. Nay ông L cho rằng vợ chồng ông bà tự ý xây dựng bờ rào, lắp đặt ống thoát nước, lát gạch men lấn trên phần đất cổng ra vào của ông L với diện tích ước tính khoảng 05 m² thì vợ chồng ông bà không nhất trí, với lý do phần diện tích đất xây dựng bờ rào, lắp đặt ống thoát nước, lát gạch men thì vợ chồng ông bà xây dựng nằm trong phần đất trong Giấy chứng quyền sử dụng đất được Nhà nước cấp cho vợ chồng ông bà, hai ông bà khẳng định không lấn chiếm đất của gia đình ông L.
Ngoài các ý kiến đã trình bày, vợ chồng ông bà không có thêm bất cứ ý kiến hay yêu cầu gì khác nữa.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng ông Võ Văn H trả lại diện tích 02 m² đã lấn chiếm của thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11, xã V cho vợ chồng ông Phạm Xuân L. Các đương sự phải chịu án phí và chi phí định giá, thẩm định tại chỗ theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả lại diện tích đã lấn chiếm, của thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11, xã V, huyện T. Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
[2] Về nội dung vụ án:
Thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11, xã V, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/9/2016, mang tên ông Phạm Xuân L và bà Cao Thị Nhật M, có diện tích 521,1 m².
Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 43, xã V, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/12/2017, mang tên ông Võ Văn H và bà Hoàng Thị T, có diện tích 384,6 m².
Thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11 của vợ chồng ông Phạm Xuân L đang để trống, chưa xây dựng gì cả. Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 43 của vợ chồng ông H đã xây dựng nhà cửa và tường xây bao quanh.
Quá trình vợ chồng ông H sử dụng đất thì xảy ra tranh chấp đất đai với vợ chồng ông L. Việc tranh chấp đất đai giữa hai bên, đã được UBND xã V hòa giải nhiều lần, nhưng không thành, nên ông Phạm Xuân L khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết.
[3] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá cho thấy:
3.1. Kết quả thẩm định cho thấy:
Tòa án đã tiến hành thẩm định xem xét tại chỗ có sự chứng kiến của các bên đương sự và chính quyền địa phương và Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T cho thấy như sau:
Thửa đất của vợ chồng ông L nằm về phía Nam, thửa đất vợ chồng ông H nằm về phía Bắc, phần đất mà vợ chồng ông L dành làm lối đi ra vào nằm giữa đất bà L ( phía Tây ) và đất ông H ( phía Đông ). Phần đất mà hai bên đang tranh chấp hiện nay vợ chồng ông H đã xây dựng bờ tường rào cao khoảng 1,6 m, hai bên ốp gạch men, trên tường có song sắt tĩnh điện; ngoài cùng có trụ cổng ốp gạch men
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 1, tờ bản đồ số 11, xã V của vợ chồng ông L và theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 16, tờ bản đồ số 43, xã V của vợ chồng ông H, có chiều dài giáp với phần đất ông L làm lối đi giáp với phần đất của vợ chồng ông H là 10,43 m; phần chiều rộng của lối đi ra vào thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11 của vợ chồng ông L có chiều rộng là 1,99 m.
Ông L đã trực tiếp đi dẫn đạc để đo đạc thẩm định tại chỗ và cho rằng thuộc phần đất của ông bà đã bị vợ chồng ông H lấn chiếm có diện tích là 8,7 m². Vợ chồng ông H cũng đã dẫn đạc để đo đạc thẩm định đúng với thực tế ông bà đang sử dụng và đã xây bờ tường rào và trụ cổng.
Từ kết quả đo đạc thẩm định của 02 bên cho thấy, ông L chỉ dẫn và cho rằng thuộc phần đất của mình đã chỉ vào trong cả phần đất của vợ chồng ông H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cũng từ kết quả thẩm định cho thấy phần đất vợ chồng ông H đã xây dựng bờ tường rào và trụ cổng sang cả phần đất mà vợ chồng ông L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 02 m².
3.2. Kết quả định giá:
Thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, có giá: 450.000 đồng/ 01 m². Trụ cổng bê tông ốp gạch men, cao 2,7 m có giá: 2.500.000 đồng. Hàng rào xây gạch táp lô, ốp gạch liên doanh, cao 1,6 m có giá: 485.000 đồng/ 01 m².
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đã lấn chiếm, tuy diện tích đất lấn chiếm không lớn và giá trị cũng không lớn, nhưng là diện tích dùng để làm lối đi ra vào chỉ có chiều rộng 1,99 m, là có căn cứ chấp nhận.
Kết quả xác minh và các chứng cứ do hai bên cung cấp và Toà án thu thập được, cho thấy, bức tường xây và trụ cổng mà vợ chồng ông H đã xây dựng nằm một phần trên diện tích đất 02 m², thuộc phần đất mà vợ chồng ông L dùng làm lối đi ra vào. Tuy phần diện tích đất này không lớn, trị giá tiền cũng không cao, ông bà H đã xây tường ốp gạch bao quanh và có trụ cổng ra vào; nhưng phần đất lại thuộc vào phần đất mà ông L dùng làm lối đi ra vào, lối đi ra vào này của ông L chiều rộng chỉ có 1,99 m, nay đã bị lấn chiếm có chiều rộng khoảng 0,53 m; cho nên cổng ra vào càng hẹp đi.
[5] Xét ý kiến của bị đơn:
Việc bị đơn cho rằng vợ chồng ông bà xây dựng tường rào và trụ cổng nằm trên đất của mình là không đúng; từ kết quả thẩm định mà hai bên đã dẫn đạc cho thấy, phần đất mà ông bà đã xây dựng trụ cổng nằm trên phần đất của ông L, còn tường rào xây thì một phần nằm trên đất của ông L, phần còn lại nằm trên đất của ông bà; chứ không phải như số liệu diện tích như ông L đã dẫn đạc đo vẽ khi thẩm định.
Tuy phần đất đã lấn chiếm chỉ có 02 m² trị giá không lớn, trong lúc đó ông bà đã xây dựng trụ cổng kiên cố và bờ tường xây bao quanh; nhưng phần đất này lại thuộc vào phần đất mà vợ chồng ông L dùng làm lối đi từ trong thửa đất ra đường lối xóm, là phần đường duy nhất để đi ra đường lối xóm.
[6] Xét ý kiến của Kiểm sát viên:
Các ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đã được làm rõ tại phiên tòa.
[7] Vì vậy cần Buộc vợ chồng ông Võ Văn H có trách nhiệm tháo dỡ và di chuyển đi nơi khác trụ cổng và phần tường xây bao quanh, đồng thời trả lại diện tích đã lấn chiếm của thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11, xã V của vợ chồng ông L là 02 m²; là hoàn toàn phù hợp với Điều 158; 163; 164; 166; 288 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 100; 101; 202; 203 Luật đất đai
[8] Về án phí; chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá:
8.1. Về án phí:
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, yêu cầu của bị đơn không được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí đối với trị giá diện tích đất tranh chấp, theo quy định của pháp luật. Song bên bị đơn là người cao tuổi, nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
8.2. Đối với chi phí thẩm định tại chỗ và định giá hết tổng cộng là: 6.040.334 đồng ( Sáu triệu, không trăm bốn mươi nghìn, ba trăm ba tư đồng ).
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, cho nên bị đơn phải chịu khoản chi phí thẩm định, định giá mà nguyên đơn đã bỏ ra nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26; Điều 147; 157; 165; 244 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 158; 163; 164; 166; 288 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 100, 101, 202, 203 Luật đất đai. Điều 12; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Xuân L và bà Cao Thị Nhật M.
- Buộc vợ chồng ông Võ Văn H và bà Hoàng Thị T, có trách nhiệm trả lại cho vợ chồng ông Phạm Xuân L và bà Cao Thị Nhật M, diện tích 02 m² đã lấn chiếm của thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, trị giá: 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng).
( chi tiết phần đất phải trả được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, X về 1; có trong sơ đồ kèm theo ).
- Buộc vợ chồng ông Võ Văn H và bà Hoàng Thị T, có trách nhiệm tháo dỡ và di chuyển toàn bộ các công trình xây dựng ( trụ cổng, tường rào xây ), đã xây trên phần đất có diện tích 02 m² đã lấn chiếm của thửa đất số 1, tờ bản đồ số 11, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An đi nơi khác, để trả lại phần đất đã lấn chiếm cho vợ chồng ông Phạm Xuân L.
- Về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá:
4.1. Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Võ Văn H và bà Hoàng Thị T.
4.2. Ông Võ Văn H và bà Hoàng Thị T, có trách nhiệm liên đới trả lại cho ông Phạm Xuân L, số tiền chi phí thẩm định xem xét tại chỗ và định giá là: 6.040.334 đồng ( Sáu triệu, không trăm bốn mươi nghìn, ba trăm ba tư đồng ).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn; bị đơn, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Nguyễn Trọng Sơn |
Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp đất đai
- Số bản án: 10/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữa ông L và ông H
